DUC TIN TRONG SANG – CN VII TN B (19-02-2012)

Chúa nhật 7 Thường niên (B)
                                                             19.02.2012

Ngay lúc này đây, chúng ta có thể chưa cần sự chữa lành phần xác nhưng chắc chắn chúng ta cần sự chữa lành tâm linh. Đây là cách áp dụng phép lạ này cho chúng ta. Tội lỗi có thể được xem như một bệnh liệt thiêng liêng ảnh hưởng đến toàn bộ chúng ta. Nó ảnh hưởng đến tâm linh chúng ta, làm suy yếu khả năng yêu thương của chúng ta. Nó ảnh hưởng đến ý chí chúng ta: Chúng ta không thể cương quyết từ bỏ điều xấu và cam kết vĩnh viễn với điều tốt. Nó ảnh hưởng đến tinh thần chúng ta: Chúng ta không thể sống trong tự do, hy vọng và vui mừng…

Đức tin trong sáng

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Người bại liệt chịu nhiều thiệt thòi. Không làm được những việc cần làm. Không đến được những nơi muốn đến. Đức Giêsu làm phép lạ chữa nhiều bệnh. Tin ấy lan tới mọi hang cùng ngõ hẻm thành Ca-phác-na-um. Người bại liệt nghe biết, nhưng ông không làm cách nào đến gặp Đức Giêsu để xin Người chữa lành. Đó là hình ảnh của những tâm hồn bại liệt. Chúa vẫn rộng rãi ban phát ân huệ của Người, nhưng những tâm hồn bại liệt, dù muốn cũng không thể đến lãnh nhận được.

Có tâm hồn bại liệt vì yếu đuối. Tâm hồn yếu đuối bị những đam mê, dục vọng đè bẹp, không sao chỗi dậy được. Đam mê, dục vọng giống như những sợi dây, rất mềm mại nhưng cũng rất chặt chẽ. Tâm hồn bị đam mê, dục vọng trói buộc sẽ trở nên tê liệt, thấy những điều tốt đẹp nhưng ngại ngùng phấn đấu, mất hết ý chí chỗi dậy, vươn lên.

Có tâm hồn bị bại liệt vì do dự. Tâm hồn do dự có nhiều ước muốn tốt đẹp, nhưng cứ mãi băn khoăn suy tính, rồi cơ hội qua đi mà vẫn không làm được điều mong muốn. Truyện ngụ ngôn kể lại: có con ngựa vừa đói vừa khát. Người ta đem đến một máng cỏ và một máng nước. Con ngựa cứ quay sang máng nước rồi lại quay sang máng cỏ, không biết nên ăn hay nên uống trước. Sau cùng nó chết vì đói và vì khát. Ngạn ngữ Pháp có câu: Hỏa ngục được lát bằng những ước muốn tốt. Ước muốn suông mà không làm sẽ chẳng giúp thăng tiến thân phận con người.

Có tâm hồn bị bại liệt vì chai đá. Tâm hồn chai đá hoàn toàn mất hết khả năng ước muốn điều lành, thờ ơ với việc thăng tiến bản thân, dị ứng với những việc đạo đức. Đây là thứ bại liệt đáng sợ nhất.

Người bại liệt trong Tin Mừng đã tìm ra phương thế để đến với Chúa. Ông nhờ những người thân khiêng tới. Cảnh 4 anh em khiêng người bại liệt, trèo lên mái nhà, rỡ ngói, thả chiếc cáng xuống trước mặt Đức Giêsu, cho ta thấy một đức tin đơn sơ trong sáng.

Đức tin đơn sơ trong sáng không suy tính, do dự, nhưng cương quyết bắt tay vào việc làm. Nhìn thấy việc phải làm, họ bắt tay vào làm ngay không để chậm trễ, không mất thời giờ bàn bạc, so đo, tính toán, trốn tránh trách nhiệm. Biết người bệnh cần gặp Đức Giêsu, họ lập tức đi tìm cáng và bảo nhau khiêng người bệnh đến ngay.

Đức tin đơn sơ trong sáng lập tức lên đường, không chịu ngồi lỳ một chỗ. Đã quyết là lên đường ngay, không ngần ngại vì đường xa, không e dè vì gánh nặng. Họ khiêng người bệnh, nhưng bước chân vẫn thoăn thoắt, ánh mắt vẫn tin tưởng, nụ cười vẫn vui tươi vì tâm hồn họ luôn luôn sẵn sàng lên đường.

Đức tin đơn sơ trong sáng giúp họ đồng tâm nhất trí với nhau. Niềm tin chân thực loại trừ mọi xung khắc bất đồng, dẫn đến đoàn kết, hợp tác, cùng nhau làm những việc tốt có ích lợi cho người khác.

Đức tin đơn sơ trong sáng không lùi bước trước khó khăn. Gặp đám đông vây quanh, chắn lối đến với Đức Giêsu, họ không sờn lòng nản chí, không bàn chuyện tháo lui, nhưng cương quyết tìm biện pháp khắc phục những khó khăn. Đã nỗ lực đổ mồ hôi để khiêng người bệnh đến, giờ đây họ lại phải nỗ lực vận dụng mọi trí não để tìm cách đưa người bệnh đến tiếp cận Đức Giêsu. Đức tin trong sáng đã làm cho trí khôn họ trở nên sáng suốt. Họ mau chóng tìm được một lối khác để đến với Người.

Đức tin đơn sơ trong sáng có những sáng kiến tuyệt với, táo bạo. Không vào được cửa chính, họ trèo lên mái nhà. Không có cửa thì họ làm ra cửa. Tháo rỡ mái nhà quả là một biện pháp táo bạo. Biện pháp táo bạo càng chứng tỏ đức tin mãnh liệt của họ.

Đức tin trong sáng có sự tế nhị nhẹ nhàng. Chắc chắn họ phải xin phép chủ nhà và sau đó, phải lợp lại mái nhà hẳn hoi tử tế. Trước sự tế nhị của họ, chắc chắn chủ nhà phải hài lòng và cảm phục.

Đức tin trong sáng không nhiều lời. Tự những việc làm đã nói nhiều hơn những bài diễn văn lê thê. Họ chưa nói lời nào để cầu xin Chúa, nhưng nhìn thấy người bệnh được thòng xuống trước mặt mình, Đức Giêsu và tất cả mọi người đều thấy được đức tin của họ, và Đức Giêsu đã chữa bệnh trước khi họ cầu xin.

Nhìn vào đức tin trong sáng của 4 người khiêng, ta thấy đức tin của mình đang còn bị tê liệt, không hoạt động. Ta bị tê liệt vì những đam mê dục vọng trói buộc. Ta bị tê liệt vì những lười biếng thiếu cố gắng. Ta bị tê liệt vì những ước muốn nửa vời. Ta bị tê liệt vì lòng nguội lạnh thiếu nhạy cảm trước những nhu cầu thiêng liêng.

Hôm nay, ta hãy noi gương 4 người khiêng bệnh nhân. Hãy ra khỏi tình trạng tê liệt tâm hồn. Hãy lên đường, ra đi đừng ngại ngùng, do dự. Hãy biến đức tin thành những việc làm chuyên chở đức bác ái. Hãy phấn đấu vượt qua mọi khó khăn. Hãy sống đức tin một cách sáng tạo, vui tươi và đoàn kết. Một đức tin như thế sẽ trở thành ngọn đèn phá tan đi bóng tối đang phủ vây giăng mắc, soi đường cho ta đi đến với Chúa, cùng đích của đời ta.

Lạy Chúa, xin hãy thêm đức tin cho con. Amen.

X Suy Niệm:

Khi người bại liệt được đưa xuống trước mặt Ðức Giêsu,
Ngài cảm nhận ngay lòng tin mạnh mẽ của họ.
Lòng tin không chịu lùi bước trước khó khăn:
phải vượt qua đám đông chật cứng trước cửa.
Lòng tin tìm ra con đường khác thường để đến với Ðức Giêsu:
không qua bằng cửa chính, nhưng bằng lỗ hổng ở mái nhà.
Lòng tin mang tính tập thể, đồng tâm nhất trí:
người bại liệt cần bốn người bạn khiêng mình,
bốn người khiêng đồng ý cùng nhau giúp người bại liệt.
Lòng tin đòi nỗ lực, đổ mồ hôi:
khoét một lỗ to, khiêng lên mái, rồi từ từ thả xuống.
Lòng tin đòi sự tế nhị, nhẹ nhàng:
phải xin phép chủ nhà và phải sửa lại mái nhà sau đó,
phải khéo léo khi dỡ mái ngay trên chỗ Ðức Giêsu ngồi.
Lòng tin đòi sự liều lĩnh:
có thể Ðức Giêsu coi việc làm như vậy là khiếm nhã,
có thể Ngài bực bội vì bài giảng của mình bị xáo trộn.

Người nằm chõng và các người khiêng đều có lòng tin.
Nhìn họ, ta thấy mình tin ít biết chừng nào.
Tin đâu phải chỉ là thái độ của ý chí,
mà của cả con người, đầu để nghĩ, tay để làm.
Nhìn họ, ta thấy mình chưa thực sự biết muốn.
Nếu ta thực sự muốn và thực sự tin vào Chúa,
thì ta đã có thể ra khỏi sự bại liệt của mình từ lâu.

“Này con, các tội của con được tha”.
Người bại liệt chờ được khỏi, còn Ðức Giêsu lại tha tội cho anh.
Phải chăng tội là nguyên nhân cội rễ của sự bại liệt ?
Có lần Ðức Giêsu nói với một người bại liệt khác:
“Anh đã được khỏi.
Ðừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn hơn” (Ga 5,14).
Tha tội là chữa bệnh bại liệt của tâm hồn.
Như thế cuối cùng anh được giải phóng cả hồn lẫn xác.
Khi anh đứng dậy, vác chõng mà đi về nhà,
chúng ta thấy anh được tự do, hết bị trói buộc:
trói buộc vào chõng và trói buộc vào tội.

Các kinh sư bực bội khi nghe câu : “Tội con được tha.”
Họ hiểu là Ðức Giêsu tự cho mình quyền tha tội.
Như thế là phạm thượng, là tiếm quyền của một mình Thiên Chúa.
Chúng ta cần nhìn các kinh sư.
Họ ngồi một chỗ, không hề mở miệng, chỉ nghĩ trong lòng.
Họ bị khô cứng, kẹt cứng trong một nguyên tắc đúng.
Họ không tin Thiên Chúa có thể chia sẻ quyền này cho Ðức Giêsu.
Ngay khi người bại liệt đi được, có lẽ họ vẫn không tin.
Họ vẫn ngồi đó với những định kiến của mình.
Cả thân xác lẫn tinh thần của họ không dám chuyển động,
không dám mở ra để thấy cái gì khác hơn, mới hơn
mà trước đây họ chưa hề nghĩ tới.
Rốt cuộc thì ai bại liệt hơn ai?

Xin Chúa cho chúng ta thấy mình dễ bị bại liệt,
dễ khép lại trong những xác tín và công thức chắc nịch,
đến nỗi mất khả năng đón nhận những vén mở bất ngờ của Chúa.

X Cầu Nguyện:

Lạy Chúa,
xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải,
để con làm bật rễ khỏi lòng con
những ích kỷ và khép kín.

Xin cho con đức tin can đảm
để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến,
chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.

Xin cho con đức tin sáng suốt
để con thấy được thế giới
mà mắt phàm không thấy,
thấy được Ðấng Vô Hình,
nhưng rất gần gũi thân thương,
thấy được Ðức Kitô nơi những người nghèo khổ.

Xin cho con đức tin liều lĩnh,
dám mất tất cả chỉ vì yêu Chúa và tha nhân,
dám tiến bước trong bóng đêm
chỉ vì mang trong tim một đốm lửa của Chúa,
dám lội ngược dòng với thế gian
và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó.

Xin cho con đức tin vui tươi,
hạnh phúc vì biết những gì
đang chờ mình ở cuối đường,
sung sướng vì biết mình được yêu
ngay giữa những sa mù của cuộc sống.

Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp
qua những cọ xát đau thương của phận người,
để dù bao thăng trầm dâu bể,
con cũng không để tàn lụi niềm tin
vào Thiên Chúa và vào con người.

Nguồn: Manna B của LM. Nguyễn Cao Siêu, SJ

CÁO PHÓ: Yă Irène Y NGŨ, Dòng Ảnh Phép Lạ Kon Tum, về với Chúa 27.4.2017

Trong niềm tín thác vào sự phục sinh của Đức Ki-Tô

GIÁO PHẬN KON TUM

HỘI DÒNG ẢNH PHÉP LẠ

VÀ GIA ĐÌNH TANG QUYẾN

Trân trọng báo tin:

Yă Irene Y Ngu

Yă Irène Y Ngũ

Sinh năm 1949 tại Làng Kon Hring

đã được Chúa gọi về lúc 11g40 ngày 27.4.2017

Hưởng thọ 68 tuổi, với 46 năm khấn dòng

Lễ nhập quan: 19g00 Thứ Sáu 28.4.2017

Lễ di quan: 08g00 Thứ Bảy 29.4.2017

Thánh Lễ An táng lúc 09g00 Thứ Bảy 29.4.2017 

do Đức Cha Aloisiô, Giám mục Giáo  Phận Kon Tum chủ tế

tại nhà nguyện Hội Dòng Ảnh Phép Lạ, Giáo Phận Kon Tum

An táng tại Đất Thánh trong nghĩa trang TP. Kon Tum.

Xin hiệp thông với Hội Dòng Ảnh Phép Lạ Kon Tum và gia đình

cầu nguyện cho linh hồn Yă Irène Y NGŨ

sớm được hưởng tôn nhan Chúa.

R.I.P.

———————- 

VÀI HÌNH ẢNH TANG LỄ YĂ IRÈNE Y NGŨ

DSC01258

Ban Mục Vụ Truyền Thông Giáo Phận Kon Tum

Chúa Nhật Lễ Lá – Khởi đầu Tuần Thánh – Suy niệm về Tuần Thánh, Tuần Tử Nạn

Le La 2011-A

Tuần Thánh, Tuần Tử Nạn bắt đầu với Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay.

Trong Tuần Thánh này, Giáo Hội muốn chúng ta bước theo chân Chúa Giêsu trên con Đường Tử Nạn, muốn chúng ta lắng nghe từng lời nói xót xa, từng hơi thở đứt quảng, từng nhịp tim đau buốt tan nát của Chúa Giêsu trên con đường thập giá; muốn chúng ta chú ý nhìn từng ánh mắt thống khổ của Chúa Giêsu, từng bước thấp bước cao lao đao run rẩy, từng giọt mồ hôi máu hãi hùng đổ ra trên khuôn mặt Chúa; muốn chúng ta cúi đầu ăn năn đau đớn trước những lăng mạ nhục nhã, trước những làn roi da gút sắt quất lên điên dại, trước những nhát búa thô bạo, trước những xô đẩy phủ phàng không tiếc xót của những kẻ hành hạ đóng đinh Chúa; muốn chúng ta đau đớn chuộc lại những lỗi lầm quá khứ, những tệ bạc thờ ơ và phản bội; muốn chúng ta sống một cuộc đời mới trong Ơn Nghĩa Thánh Chúa; muốn chúng ta sống một cuộc đời cương quyết trung thành theo Chúa cho đến cùng.

Trong Tuần Thánh này, Chúa Giêsu bị dập vùi dưới đau khổ, dưới sự chết, nhưng kỳ diệu thay, chúng ta lại thấy toàn là Thiên Chúa, toàn là siêu việt trong sự Tử nạn của Ngài.

LeLa2012

Thứ nhất, về cái chết của Chúa Giêsu. 

Cái chết của Chúa Giêsu đã được nói đến một cách rất rõ ràng: hàng ngàn năm trước, hàng trăm năm trước, các ngôn sứ đã loan báo rõ ràng từng chi tiết cụ thể về cái chết của Đấng Cứu Thế.

Về phần mình, Chúa Giêsu biết trước và nói trước một cách chắc chắn, về giờ và về hoàn cảnh cái chết của mình, với từng chi tiết một.

Không ai trong loài người chúng ta có thể biết được mình sẽ chết khi nào và sẽ chết trong những hoàn cảnh nào? Chỉ có Chúa Giêsu biết được như vậy. Điều này chứng minh Ngài là Con của Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa.

stpete_palmsunday

 Thứ hai, cái chết đầy tự do của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu chọn cách chết cho mình, chọn giờ chết cho mình. Khi giờ chết của Ngài chưa đến, không ai có thể bắt được Ngài.

Không ai trong loài người chúng ta có thể chọn cái chết cho mình, chọn giờ chết cho mình. Chỉ có Chúa Giêsu làm được điều này. Điều này chứng minh Ngài là Con của Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa.

ALENT6_Vs

Thứ ba, về thái độ của Chúa Giêsu khi sắp chết.

Khi sắp chết, Chúa Giêsu có những thái độ thật siêu phàm: nhân lành đối với các môn đệ hèn nhát, bỏ Thầy để chạy trốn; dịu dàng với Giuđa phản nộp Thầy; âu yếm với Phêrô chối Thầy; tha thứ cho dân Do Thái vong ân; nhẫn nhục sống trọn thánh ý của Chúa Cha; im lặng một cách lạ lùng trước bao nỗi ê chề đau khổ tủi nhục vu oan cáo vạ.

Một con người như chúng ta, dẫu là hiền nhân quân tử anh hùng đến đâu mặc lòng, không thể nào có được những thái độ siêu phàm như Chúa Giêsu được. Điều này chứng minh Chúa Giêsu là Con của Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa.

palm-sunday

Thứ tư, về những hiện tượng khi Chúa Giêsu tắt thở.

Khi Chúa Giêsu tắt thở, màn Đền Thờ Giêrusalem bị xé ra, động đất dữ dội, núi đá nứt nẻ, người chết ra khỏi mồ, mặt trời mất ánh sáng, bóng tối bao phủ không gian, dân chúng Do Thái trên đồi Canvariô kinh khiếp đấm ngực bỏ chạy về nhà, các quân sĩ Rôma hết sức ngơ ngác, viên sĩ quan Rôma chỉ huy cuộc đóng đinh Chúa Giêsu, thốt lên to tiếng: “Người này thật là Con Đức Chúa Trời!”.

+++

Lạy Chúa Giêsu! Chúa chết vì tội của người Do Thái. Chúa cũng chết vì tội của chúng con.

Chính tội của chúng con chỉ huy lưỡi đòng người lính vung lên đâm Chúa.

Chính tội của chúng con đã mài giũa ngọn giáo thật sắc để đâm thủng Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, trước tội lỗi nặng nề của chúng con, Chúa hoàn toàn nhắm mắt và tha thứ, chỉ mong chúng con biết hối lỗi ăn năn, trở về với Chúa. Xin cho chúng con biết xa lánh tội lỗi, thành thực ăn năn thống hối, thành tâm trở về với Chúa, để được hạnh phúc phục sinh với Chúa.

Amen!

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang

Việt Nam – Xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân – Ls. Đặng Đình Mạnh

16.03.2017

 ALEXANDRE DE RHODES

Linh mục Alexandre De Rhodes

Thực tế, chính việc bổ sung phần La tinh của cha Alexandre De Rhodes đã trở thành đóng góp quan trọng bậc nhất giúp hình thành nên chữ viết theo lối La tinh mà sau đó nhanh chóng trở thành quốc ngữ Việt Nam.

Khi đọc những dòng chữ Việt ngữ này, là bạn đang chiêm ngưỡng tác phẩm của các linh mục thừa sai Dòng Tên gồm các cha Gaspar De Amaral, cha Antonio Barbosa, cha Francisco De Pina và cha Alexandre De Rhodes, tất cả họ đều là tác giả của quốc ngữ mà người Việt ta đang sử dụng hàng ngày.

Với linh mục Gaspar De Amaral, cha đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ. Với linh mục Antonio Barbosa, cha soạn cuốn từ điển Bồ – Việt. Với linh mục Francisco De Pina, được cho là cha đã dựa vào cách phát âm tiếng Bồ để chuyển tự ghi chép tiếng Việt khi ông vào Đàng Trong (Từ sông Gianh trở vào Nam). Nhưng các cha đều mất khá sớm, tuy vậy, cùng với một số linh mục khác trong giai đoạn tiên khởi này, các cha đã giúp đặt nền móng đầu tiên cho quốc ngữ Việt Nam.

Với linh mục Alexandre De Rhodes, thì cha đã dựa vào hai công trình từ điển nêu trên và bổ sung thêm phần La tinh để hình thành nên cuốn từ điển Việt – Bồ – La.

Thực tế, chính việc bổ sung phần La tinh của cha Alexandre De Rhodes đã trở thành đóng góp quan trọng bậc nhất giúp hình thành nên chữ viết theo lối La tinh mà sau đó nhanh chóng trở thành quốc ngữ Việt Nam.

Đánh giá về vai trò của linh mục Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh nên quốc ngữ Việt Nam, tờ Nguyệt San MISSI do các linh mục Dòng tên người Pháp quản lý đã từng viết nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông, đại lược như sau: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre De Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”.

Quả vậy, khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách in quyển từ điển và các sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ tại nhà in Vatican – Roma, thì cha Alexandre De Rhodes đã giải phóng cho nước Việt Nam về chữ quốc ngữ.

Bởi lẽ trước đó, tương tự như Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên), thì người Việt Nam sử dụng lối chữ viết tượng hình, biểu ý của người Tàu hoặc chữ nôm do tự sáng chế và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Cao Ly mới chế biến ra chữ viết riêng của họ, nhưng vẫn không theo cách viết La tinh nên bị hạn chế nhiều. Còn người Nhật Bản thì sau nhiều lần thử nghiệm chế biến lối chữ viết khác, nhưng cuối cùng đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình, biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, chính người Tàu dưới chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông cũng đã từng tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre De Rhodes, đã tiến bộ trước người Tàu đến hơn ba thế kỷ rưỡi (1651 – 1017 – tính từ năm in cuốn từ điển Việt – Bồ – La đến thời điểm hiện nay.

Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Alexandre De Rhodes khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, chính cha Alexandre De Rhodes là người hệ thống hóa, hoàn tất công trình làm ra chữ quốc ngữ thành công vào năm 1651, tức là năm mà cuốn tự điển Việt – Bồ – La chào đời tại nhà in Vatican – Roma.

Thế nên, chính tại nhà in Vatican ở Roma là nơi mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình, và chính năm 1651 cũng là năm khai sinh chính thức của chữ quốc ngữ Việt Nam.

A lich Son Dac Lo

Linh mục Alexandre De Rhodes

Theo đó, chữ viết theo lối La tinh ban đầu được các nhà truyền giáo đặt nền móng cho việc sử dụng trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đến khi được người dân Việt Nam chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, thì mặc nhiên nó đã tự mình được nâng cấp thành chữ quốc ngữ.

Ghi nhận công nghiệp của cha Alexandre De Rhodes đối với xứ sở, năm 1941, một tấm bia kỷ niệm nhân ngày sinh nhật thứ 350 của cha đã được dựng ở gần bên bờ Hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu – Hà Nội. Đến năm 1957, khi Hà Nội thuộc sự quản lý của chính quyền Cộng Sản thì bia đã bị gỡ bỏ.

220px-Tem_Alexandre_de_Rhodes

Tem bưu chính thời Việt Nam Cộng Hòa tôn vinh công đức sáng tác Chữ Quốc Ngữ cho dân tộc Việt Nam của Linh mục Alexandre de Rhodes (Giáo sĩ A Lịch Sơn Đắc Lộ)

Chính quyền Sài Gòn cũ đặt tên ông cho một con đường tọa lạc trước mặt Dinh Độc Lập, nay là Dinh Thống Nhất, đối xứng với phía bên kia là đường Hàn Thuyên, tên danh sĩ được ghi nhận có công phát triển và phổ biến lối chữ Nôm. Sau năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên đường thành Thái Văn Lung và bây giờ thì đã trả lại tên cũ là Alexandre De Rhodes cho con đường này.

Về tiểu sử: Nguyên, cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) sinh ngày 15/03/1591 (hay 1593?) tại vùng Avignon, miền nam nước Pháp. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn ở vùng Avignon là đất của Giáo Hoàng. Ông gia nhập Dòng Tên tại Roma năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển mạnh mẽ.

Đầu năm 1625, cha Alexandre De Rhodes đến Việt Nam bắt đầu từ Hội An. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha. Nhưng cuộc đời truyền giáo của cha ở đây rất gian nan, trong vòng 20 năm, cha bị trục xuất đến sáu lần. Đến năm 1645, cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Cha mất ngày 5/11/1660 ở Iran, thọ 69 tuổi.

Hiện nay, ở Việt Nam đã từng xuất hiện ý kiến phủ nhận công lao đóng góp của cha Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh chữ quốc ngữ, một trong số họ nêu quan điểm: “Alexandre De Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Người Việt Nam đã tận dụng chữ quốc ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hóa dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện ‘gậy ông đập lưng ông’ mà thôi”. [1]

Riêng đối với công chúng, thì:

– Lối chữ viết đã trở thành quốc ngữ của xứ sở với chín mươi triệu đồng bào cả trong và ngoài nước cùng sử dụng;

– Lối chữ viết được dùng để thể hiện những dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ thuở hồng hoang đến nay;

– Lối chữ viết được dùng để thể hiện lời ru “Ầu ơ …” ân cần của mẹ từ ngày sinh ra ta làm kiếp người;

– Lối chữ viết được dùng để thể hiện sự yêu thương giữa những thành viên trong gia đình, giữa những đôi tình nhân, giữa những người tri kỷ …

– Lối chữ viết được dùng thể hiện ca từ những nhạc phẩm bất tử như Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, Trưng Nữ Vương, Lòng mẹ, Tình ca …

– Lối chữ viết mà dân ta có thể tự hào là riêng biệt trong khi rất nhiều quốc gia khác, kể cả nhiều cường quốc vẫn còn phải vay mượn (Úc, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Đại Hàn …);

Thì người khai sinh của lối chữ viết ấy chắc chắn phải là ÂN NHÂN của xứ sở mình, bất kể đến quốc tịch của họ, bất kể đến tôn giáo của họ và bất kể đến động cơ của họ khi khai sinh lối chữ ấy!

Và với chế độ:

– Lối chữ viết được Ông Hồ Chí Minh dùng để viết lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh chế độ;

– Lối chữ viết được dùng để thể hiện Hiến pháp quy định sự độc tôn chính trị của Đảng Cộng Sản;

– Lối chữ viết được dùng trong tất cả mọi sinh hoạt chính trị, hành chính, xã hội, kinh tế, giáo dục, văn hóa …

– Lối chữ viết mà hơn 700 tờ báo của chế độ đang dùng;

– Lối chữ viết mà hơn 24.000 vị tiến sĩ khoa bảng quốc gia đang dùng;

– Lối chữ viết mà hơn 400 trường Đại học, cao đẳng các loại và hàng vạn trường học các cấp đang dùng;

Nhưng lại không mấy ai trong số họ nhắc đến ngày sinh nhật của cha Alexandre De Rhodes, người có công khai sinh lối chữ viết mà nghiễm nhiên đã là quốc ngữ của xứ sở, như là một trong những ân nhân của dân tộc này thì thật là đáng thất vọng!

Tôi tin rằng, xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân!

Ls. Đặng Đình Mạnh (12-3-2017)

[1] http://antg.cand.com.vn

(daminhvn.net)

Nguồn: http://giaophanvinh.net/modules.php?name=News&op=viewst&sid=13344

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

 

Thánh Perpêtua và Phêlixita, Tử đạo (thế kỷ III) – Ngày 07/03

Perpetua-Felicity.jpg

Perpêtua và Phêlixita, cùng với các bạn chịu chết với các Ngài năm 203 tại Carthage, là những khuôn mặt sống động đặc biệt trong số các thánh tử đạo vào các thế kỷ đầu. Chúng ta có được những tường thuật chính xác về cuộc tử đạo của các Ngài nhờ vào tài liệu đương thời, bao gồm những nhật ký của chính thánh Perpêtua, một trang sử của vị tử đạo khác và một câu chuyện do nhân chứng đầu tiên, có lẽ là Tertulianô viết lại.

Dưới cuộc bách hại của Septimô Sêvêrô. Một phụ nữ trẻ thuộc gia đình danh giá tên là Vibia Perpêtua đã bị bắt cùng với hai thanh niên là Saturnunô và Secundôiô, với hai người nô lệ là Revecatô và Phêlicitê. Tất cả đều đang học với một giáo dân tên là Saturô. Thấy các học viên của mình bị bắt, Saturô cũng tự nộp mình để khỏi phải xa lìa họ.

Cha của Perpêtua là một người thờ ngẫu tượng nài nỉ con mình trung thành với ngoại giáo. nhưng chỉ vào một cái bình, thánh nữ trả lời : – Thưa cha, người ta có thể gọi vật này bằng cái tên nào khác hơn là cái bình không ? Đối với con cũng vậy con không thể cho mình một cái tên nào khác ngoài danh hiệu là Kitô hữu.

Người cha liền lao vào con như muốn móc mắt và ông đánh đập Perpêtua tàn nhẫn. Rồi ông rút lui. Nhiều ngày sau thánh nữ không gặp lại ông. Trong những ngày đó Perpêtua cùng với các bạn còn đang dự tòng đã được rửa tội.

Khi người ta dìm vào nước, thánh nữ đã chỉ nguyện xin một lời này là: được sức mạnh để chịu đựng nên các đau khổ của cuộc tử đạo. Bây giờ họ bị dồn chung vào một phòng chật hẹp tối om. Đút lót tiền bạc, họ được rộng rãi hơn một chút, Perpêtua mẹ của một đứa bé còn đang bú đã phải đau khổ nhiều vì xa con. Đứa bé kiệt sức. Người ta trả nó lại cho mẹ và người mẹ vui sướng quên hết mọi đau đớn. Ngục tù đã trở nên cung diện đối với Ngài. Các thị kiến thánh nữ được thấy, an ủi Ngài nhiều và nâng cao niềm hy vọng của Ngài ngay khi còn ở trần gian này.

sts-perpetua-felicity-k

Người ta biết rằng: các tù nhân sắp bị xét xử. Người cha của Perpêtua thất vọng. Ông đến thăm con gái mình và thốt ra những lời van xin nghe muốn đứt ruột: – “Con ơi, hãy thương mái tóc bạc của cha, hãy thương cha. Hãy nhớ tới đôi tay cha đây đã dưỡng nuôi con. Hãy tưởng tượng tới mẹ con, anh em con, con của con nữa, không có con nó sống sao được. Bỏ đi con, điều dốc quyết làm cho chúng ta mất tất cả”.

Tất cả điều này thật là độc dữ đối với Perpêtua. Thánh nữ nói:- Thưa cha, tại tòa án sẽ xẩy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình.

Người cha còn cho người đem đứa trẻ tới năn nỉ lần nữa :- Hãy thương đến con của con.

Trong khi đó các tù nhân tuyên bố rằng họ đều sẵn sàng hy sinh tất cả cho Thiên Chúa. Họ bị giải tới nhà tù gần hí trường, Perpêtua đã cầu nguyện ngày đêm cho một người em chết vì ung thư. Trong một thị kiến Ngài đã thấy nó trong một nơi tối tăm, bây giờ lên một nơi ngập đầy ánh sáng.

Phêlicitê hạ sinh một đứa con trai. Khi Ngài rên xiết vì đau đớn, một người lính gác ngục chế nhạo người rằng: – Nếu không chịu nổi đau đớn lúc này, làm sao cô chịu nổi các thú dữ ?

Phêlicitê trả lời: – Hôm nay tôi khổ vì tôi nhưng khi tôi chết vì đạo, sẽ có một người khác trong tôi chịu khổ cho tôi, bởi vì tôi chịu cực khổ vì Ngài.

Trong khi chờ đợi cái chết độc dữ đã được dành sẵn, các tù nhân vẫn giữ được cái tính hài hước lành mạnh và vui tươi của họ, thánh Perpêtua nói: – Còn sống chúng ta luôn vui tươi, trong cuộc sống khác, chúng ta sẽ hân hoan mãi.

Ngày vui chơi đến, họ phải diễn trò cho thiên hạ. Người cha của Perpêtua tàn héo vì sầu muộn, nhưng thánh nữ luôn có thị kiến. Khi các thánh tử đạo tiến vào hí trường, các Ngài tỏ vẻ vui tươi phấn khởi. Perpêtua thì ca hát. Trước mặt dân chúng, Ngài đã trả lời quan tòa: – Ngài xét xử chúng tôi, nhưng Thiên Chúa xét xử Ngài.

Quan tòa truyền đánh đòn các Ngài, nhưng các Ngài lại cảm thấy hạnh phúc vì được giống Chúa Kitô thầy mình. Thú dữ được thả ra, những người trẻ bị cắn xé, Perpêtua và Phêlicitê bị lột áo. Các Ngài đòi lại và người ta chấp nhận cho các Ngài đặc ân này. Các Ngài bị gói vào trong một cái lưới. Một con bò cái hung hãn xông vào Perpêtua, hất tung Ngài lên trời, rớt xuống đất Ngài vẫn còn sống và Ngài cúi nhìn người nữ tì Phêlicitê của mình đang nằm sõng sượt trên mặt đất, và giúp nàng chỗi dậy. Dân chúng trong một lúc hết hung hăng đã xin trả tự do cho các vị tử đạo. Perpêtua tin rằng: mình vừa thức dậy từ một cơn mơ. Phải thấy những vết thương đã chịu, Ngài mới tin là sự thật, Ngài nói với Rusticus và em mình rằng: – Hãy vững tin, đừng kinh ngạc vì những đau khổ của chúng tôi. Đám dân chúng dễ bị khích động và thất thường lại đòi giết những người này. Ngài hôn chúc bình an và đưa thân cho lý hình. Người phải giết Perpêtua run rẩy, lưỡi gươm của anh ta trật đường, làm bị thương bên sườn Ngài. Chính Perpêtua phải hướng dẫn tay của lý hình và giúp đỡ để hắn đẩy mũi giáo vào cổ họng mình.

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Ý nghĩa của tro trong ngày Lễ Tro

ash_wednesday (899 x 599)

Lm. William Saunders

Tro dùng trong phụng vụ có từ thời Cựu Ước. Tro biểu tượng cho sự u buồn, cái chết và sự thống hối.

le tro-xuc tro-troChẳng hạn, trong sách Esther, Mordecai mặc áo vải thô và xức tro khi nghe chiếu chỉ của vua Ahasuerus (hay Xerxes, 485-464 BC) ra lệnh giết hết người Do Thái trong Đế quốc Ba Tư (Et 4, 1). Ông Gióp (câu chuyện được viết vào khoảng giữa thế kỷ thứ 7 và 5 trước Công nguyên) cũng mặc áo vải thô và xức tro khi sám hối (G 42, 6). Khi tiên báo thành Giêrusalem bị quân Babylon chiếm đóng, Đaniel (khoảng năm 550 BC) viết: “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Đn 9, 3). Vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, sau khi Giona rao giảng về sự thống hối và hoán cải, cả thành Ninivê ăn chay và mặc áo vải nhặm, ngồi trên đống tro (Gn 3, 5-6). Những bằng chứng trong Cựu Ước này cho thấy từ lâu đã có sử dụng tro cũng như ý nghĩa biểu tượng của nó được nhìn nhận.

Chính Chúa Giêsu cũng nhắc đến tro: khi dân các thành phố từ chối thống hối dù đã chứng kiến những phép lạ và nghe Tin Mừng, Ngài nói: “Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Siđôn, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối”  (Mt 11, 21).

xuctro (830 x 581)

Giáo hội sơ thời tiếp tục sử dụng tro vì các ý nghĩa biểu tượng của nó. Trong cuốn De Poenitentia (về sự thống hối), Tertullian (khoảng năm 160-220) quy định người thống hối phải “sống u buồn sầu thảm trong sự thô ráp của áo vải nhặm và tro bụi dơ dáy”. Eusebius (260-340), sử gia danh tiếng của Giáo hội sơ thời, đã thuật lại trong cuốn Lịch sử Giáo Hội về một người bội giáo tên là Natalis đã mặc áo vải thô và xức tro, quỳ gối trước Đức giáo hoàng Zephyrinus để xin tha thứ. Trong suốt thời kỳ giáo hội sơ thời này, tro được rắc lên đầu những người bị buộc phải thú tội và sám hối công khai.

Vào thời Trung cổ (khoảng thế kỷ thứ 8) những người hấp hối được đặt nằm dưới đất trên tấm vải rắc đầy tro. Linh mục rảy nước thánh trên người hấp hối và nói: “Hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. Sau đó, linh mục hỏi: “Anh (chị) có bằng lòng với vải thô và tro bụi để minh chứng lòng thống hối trước mặt Thiên Chúa trong ngày phán xét không?”. Người hấp hối trả lời: “Con xin bằng lòng”. Đây là những bằng chứng cho thấy ý nghĩa biểu trưng cho tang chế, cái chết và thống hối.

Cuối cùng, người ta dùng tro để đánh dấu Mùa Chay bắt đầu, một thời gian chuẩn bị 40 ngày (không kể ngày Chúa Nhật) hướng đến lễ Phục Sinh. Nghi thức “Ngày lễ tro” được tìm thấy trong cuốn Nghi thức bí tích Gregory (thế kỷ thứ 8). Khoảng năm 1000, một linh mục Anglo-Saxon tên là Aelfric rao giảng rằng: “Trong lề luật mới lẫn cũ đều nói rằng người sám hối tội lỗi phải xức tro và mặc vải thô. Vậy thì bây giờ chúng ta phải rắc tro trên đầu để tỏ lòng thống hối vì tội lỗi chúng ta trong suốt mùa Chay tịnh này”. Để củng cố quan điểm của mình, Aelfric kể lại câu chuyện về một người đàn ông không tham dự và xức tro trong ngày thứ Tư lễ tro, liền bị chết ít ngày sau đó trong cuộc săn lợn. Ít ra là từ thời Trung cổ, Giáo hội đã dùng tro để đánh dấu sự bắt đầu của Mùa Chay thống hối, nhắc lại cái chết và sự u buồn vì tội lỗi chúng ta.

Trong phụng vụ thứ Tư lễ tro hiện hành, chúng ta dùng tro đốt từ các nhành cây được phát vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá năm trước. Vị linh mục làm phép tro và xức trên trán các tín hữu theo dấu thánh giá và nói: “Hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về bụi tro” hay “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Bắt đầu mùa Chay thánh chuẩn bị cho lễ Phục Sinh, chúng ta phải nhớ ý nghĩa của tro mình lãnh nhận: thống hối vì tội lỗi mình. Chúng ta hướng tâm hồn về với Chúa là Đấng chịu khổ nạn, chịu chết và sống lại để ta được cứu rỗi. Chúng ta làm mới lại lời hứa khi chịu phép rửa tội, bỏ lối sống cũ và sống đời sống mới trong Đức Kitô. Cuối cùng, hãy nhớ rằng thế gian này sẽ qua đi, chúng ta cố gắng sống Nước Trời ngay từ bây giờ và hướng đến ngày hoàn tất trên Thiên Đàng. Điều chính yếu là chúng ta chết cho chính mình và sống cuộc sống mới trong Đức Kitô.

CLENT0Vs

Khi nhớ lại ý nghĩa của tro bụi và cố gắng sống ý nghĩa ấy trong suốt thời gian mùa Chay này, chúng ta phải để cho Chúa Thánh Thần lay động để tỏ lòng bác ái đối với tha nhân. Sứ điệp mùa Chay năm 2003, Đức Thánh Cha đã nói: “Tôi hy vọng các tín hữu sẽ tìm thấy mùa Chay này là thời gian thuận tiện để làm chứng cho Tin Mừng đức ái khắp mọi nơi, vì ơn gọi đức ái là trái tim của Phúc âm hóa”. Ngài cũng lấy làm tiếc về “thời đại này đang bị tính vị kỷ cám dỗ, nó ẩn nấp trong trái tim con người … Ước muốn thái quá về của cải đã ngăn cản con người mở lòng ra với Đấng Tạo Hóa và với anh chị em mình”.

Trong mùa Chay, các hành vi của tình yêu trao ban cho những ai đang thiếu thốn sẽ phải là một phần trong sự thống hối, hoán cải và đổi mới của chúng ta, bởi vì những hành vi đó cấu thành tình liên đới và sự công bằng để xây dựng Nước Trời trong thế gian này. 

Lm. William Saunders

Tạp chí Arlington Catholic Herald

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

——————-

VIDEO THÁNH CA: VƯƠN CAO LINH HỒN

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2017 CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ:

“NGÔI LỜI LÀ MÓN QUÀ,

THA NHÂN LÀ QUÀ TẶNG”

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2017 của ĐTC. PHANXICÔ

Thánh Ca MÙA CHAY THÁNH Hay Nhất 2017

BẤM NGHE: THÁNH CA MÙA CHAY HAY NHẤT 2017

Tại sao Giáo hội của Chúa Kitô là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền?

22.02.2017.- Nhân ngày Lễ Kính ” Lập Tông Tòa Thánh Phêrô Tông Đồ, và suy niệm về quyền lãnh đạo Giáo Hội do chính Thiên Chúa qua Đức Giêsu thiết lập theo Tin Mừng Mt 16, 13-19, chúng ta cùng tìm hiểu tính chất căn bản của Giáo Hội Công Giáo ghi trong Kinh Tin Kính là “Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền” qua bài phỏng vấn sau đây:

one-holy-catholic-apostolic

Lm.  Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hỏi: xin cha giải thich : Những người chỉ trích Giáo Hội nêu lý do là trong Kinh Thánh không tìm đâu ra những từ ngữ như: duy nhất ,thánh thiện , công giáo và tông truyền. Vậy từ đâu Giáo Hội Công Giáo có những đặc tính trên đây ? và nếu không gia nhập Giáo Hội Công Giáo thì có được cứu rỗi không?

Trả lời:   Các giáo phái ngoài Công Giáo  từ xưa đến nay vẫn thường chỉ  trích Giáo Hội Công Giáo là thiếu nền tảng Kinh Thánh  nên đã phạm  nhiều lầm lỗi. Sở dĩ thế  vì họ  – các nhóm Tin Lành nói chung-  chì tin có Kinh Thánh (sola scriptura) nhưng họ cắt nghĩa Kinh Thánh theo cách đọc và hiểu của riêng họ nên  mới đả kích Giáo Hội như vậy. Thật ra, Giáo Hội Công Giáo không những có Kinh Thánh mà còn có thêm những nguồn suối chân lý khác như Mặc khải (revelatio) Thánh Truyền (Traditio) và Quyền Giáo Huấn (Magisterium) là những nền tảng mà các giáo hội ngoài Công Giáo không có và cũng không nhìn nhận giá trị. Vì thế, ta không ngạc nhiên khi có sự khác biết lớn lao giữa Công Giáo và các giáo phái về nhiều lãnh vực của đức tin. Liên quan đến bản chất  và sứ mệnh của Giáo Hội, thì sau đây là những lý do để trả lời  câu hỏi nêu ra:  

Trong Kinh Tin Kinh của Công Đồng Nicene đọc ngày Chúa Nhật và các ngày lễ trọng, Giáo hội tuyên xưng “ có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”.

1- Giáo Hội  duy nhất :

Giáo Hội là duy nhất vì Chúa Kitô chỉ thiết lập Giáo Hội này  một lần trên nền tảng các tông đồ mà Phêrô là Đá Tảng : 

“ Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực  tử thần Sẽ không thắng nổi.” ( Mt 16:18)

Như thế, Giáo Hội là duy nhất vì bắt nguồn từ “ Khuôn mẫu tối cao và nguyên lý của mầu nhiệm này nằm trong Ba Ngôi của một  Thiên Chúa duy nhất là Cha và Con trong Thánh Thần”  ( UR 2, SGLGHCG, số 813).

Nói khác đi, Giáo Hội là duy nhất vì Đấng sáng lập là Chúa Kitô cũng là Thiên Chúa duy nhất cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong một Thiên Chúa có chung  một bản  thể và uy quyền. như nhau. Như thế  đặc tính duy nhất  của  Giáo Hội thể hiện mầu nhiệm duy nhất của một Thiên Chúa có Ba Ngôi Vị

Tính chất độc nhất này của Giáo hội đã được Thánh Công Đồng Vatican II minh xác như sau: “ Đó là Giáo Hội độc nhất của Chúa Kitô mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính là duy nhất. thánh thiện, công giáo và tông truyền. Sau khi phục sinh, Đấng cứu chuộc chúng ta đã trao phó cho Phêrô chăn dắt Giáo Hội đó.(Ga 21:17). Người phó thác cho Phêrô cũng như cho các Tông Đồ khác truyền bá , cai quản (Mt 28:18 )…Như một xã hội được thiết lập qui củ trên trần gian, Giáo Hội  ấy “tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo” do Đấng kế vị Phê rô và các Giám Mục hiệp thông với ngài điều khiển…(x. Lumen Gentium, số 8) 

2-  Giáo Hội Thánh Thiện:

Giáo Hội thánh thiện vì  Chúa Kitô , Đấng sáng lập và là Đầu của Giáo Hội  được tuyên xưng là “Đấng Thánh suy nhất “ cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đã yêu thương Giáo Hội như hiền thê của mình.. .vì thế Giáo Hội là Dân thánh của Thiên Chúa và các thành viên của Giáo Hội được gọi là “các thánh” (SGLGHCG số 823)

Tuy nhiên, do bản chất loài người đã bị băng hoại vì tội nguyên tổ, cho nên các thành viên lớn nhỏ  của Giáo Hội chưa hoàn toàn là ‘các thánh” như tước hiệu được ban cho. Nghĩa là Giáo Hội vẫn bao gồm những người có tội đang cần sám hối để xin Chúa tha thứ và thánh hóa hầu xứng đáng là “ Dân thánh của Người” trong Giáo Hội có bản chất thánh thiện vì Chúa Kitô, Đầu của Giáo Hội  là Đấng Thánh, trọn lành.

3- Giáo Hội là công giáo ( catholic=universal) đặc tính này bắt nguồn từ chính Chúa Kitô, Đấng sáng lập Giáo Hội, qua hai sự kiện cụ thể được ghi lại trong Kinh Thánh Tân Ước như sau:

a-Trước hết, sau khi giáng sinh ở Bethlehem, Chúa đã tỏ mình cho dân ngoại qua  ánh sao lạ  mời gọi và dẫn đường cho ba chiêm tinh gia cũng quen gọi là Ba Vua, từ phương Đông đến thờ lạy Người. (Mt 2: 1-12) Sự kiện này cho thấy rõ  tính phổ quát ( universality) của Ơn Cứu Độ mà Chúa mang đến  không phải chỉ dành riêng cho một dân  tộc nào, – kể cả dân Do Thái, vốn là Dân riêng của Thiên Chúa,-  mà dành cho hết mọi dân tộc , thuộc mọi ngôn ngữ và văn hóa..

b- Thứ đến, trước khi về Trời, Chúa Kitô đã truyền cho các môn đệ mệnh lệnh sau đây: “ anh  em  hãy đi  và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần..” ( Mt 28:19).

Trước hết, đây  là lời Chúa  mời gọi mọi người không phân biệt màu da, tiếng nói , chủng tộc nhận biết  Chúa và lãnh ơn cứu chuộc của Người ,vì “ Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý.” ( 1Tm 2: 4).Đây cũng là lệnh truyền của Chúa Giêsu trước hết cho các Tông Đồ và các người kế vị trong Giáo Hội từ thời sơ khai cho đên ngày nay và cho đến ngày mãn thời gian, phải  đi khắp nơi để rao giảng Phúc Âm cho muôn dân để mời gọi họ đón nhận Tin Mừng  hầu được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn..

Thêm một lần nữa, đây chính là nét phổ quát của Ơn Cứu Độ mời gọi hết mọi dân tộc  không phân biệt mầu da , tiếng nói và văn hóa đón nhận để được sống hạnh phúc trường sinh trên Nước Trời.

Chúa đã thiết lập Giáo Hội như phương tiện hữu hiệu nhất để chuyên chở Ơn Cứu Độ của Người  đến cho những ai có thiện chí muốn đón nhận. Và phép Rửa là cửa ngõ đi vào Giáo Hội này.

Chính vì nét phổ quát này của Ơn Cứu Độ  mà Giáo Hội của Chúa được gọi là Công Giáo ( Catholicam, Catholic, Catholique.= Universal) vì mục đích mời gọi  hết mọi người gia nhập để trở thành Dân Thiên Chúa, hầu nhận lãnh Ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô.

Hơn nữa, Giáo Hội là Công Giáo vì có Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội này :  “ đâu có Chúa Kitô thì đấy có Giáo Hội Công Giáo” theo lời dạy của Thánh Ignatiô thành Antiokia ( Sđd, số 795 (830). Người không những hiện diện mà còn là Đầu của Giáo Hội như Thánh Phaolô đã dạy  như sau:

“ Người ( Chúa Kitô) cũng là Đầu của thân thể; nghĩa là Đầu của Hội Thánh..” ( Cl 1:18; Ep 4: 15)

Tóm lại, Giáo Hội là Công Giáo vì được Chúa Kitô thiết lập và sai đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân trên khắp địa cầu cho đến thời viên mãn.Cũng vì đặc tính phổ quát này mà Giáo Hội có bản chất truyền giáo ( missionary, evangelical) trong sứ mệnh của mình..

Sau hết , cũng cần nói lại ở đây một lần nữa là từ ngữ “ Công Giáo” ở đây hoàn toàn không có nghĩa là “công cộng=public” như có người,vì kém hiểu biết,  đã  tự chế và dich sai ra Anh ngữ  như trên nhằm mục đích đả phá Giáo Hội, vì cho là  Công Giáo muốn trở thành Quốc Giáo nên mới tự xưng là “Đạo cộng cộng=Public Religion”, một từ ngữ không hề có trong Tự điển các Tôn Giáo  trên thế giới.

4- Giáo Hội Tông Truyền ( Apostolic): Giáo Hội là Tông Truyền vì được Chúa Kitô thiếp lập trên nền tảng  các Tông Đồ mà Phêrô là “Đá Tảng” ( Mt 16:18; Ep 2:20; Cv 21:14). Chúa đã sai các Tông Đồ đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Người cho mọi dân tộc, tức là cho các ông được tham gia vào Sứ Vụ rao giảng và Cứu độ của Chúa cùng mục đích như Chúa Cha đã sai Người đến trần gian:

“Như  Chúa Cha đã sai Thầy

Thì Thầy cũng sai anh  em “ ( Ga 20:21)

Như vậy các Tông Đồ đã nhân lãnh trực tiếp từ Chúa Giêsu sứ mệnh cai quản Giáo Hội để  tiếp tục Sứ Vụ rao giảng và cứu độ của Chúa cho đến ngày  cánh chung. Các Tông Đồ đã chọn những người kế vị các ngài là các Giám mục được tuyển chọn và truyền chức thánh qua việc đặt tay ( 1 Tm 4: 14; 5: 22; 2Tm 1:6) để tiếp tục sứ vụ của các ngài trong việc cai quản , dạy dỗ và thánh hóa  Dân Chúa trong Giáo Hội , với sự cộng tác và vâng phục của các linh mục và phó tế, là những cộng sự viên đắc lực của các Giám mục.( Lumen Gentium số 20). Các Giám mục cũng vâng phục và hiệp thông trọn vẹn với Đức Thánh Cha là người kế vị Thánh Phêrô, Tông Đồ cả mà Chúa Kitô đã đặt lên để “ chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Thầy.” ( Ga 21: 15-17).Đức Thánh Cha cũng là Giám mục Rôma và là Thủ Lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ (  Universal  Catholic Church).Hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ là các Giáo Hội Công Giáo địa phương ( Local Church) hay còn gọi là các Giáo Phận ( Diocese) do một  Giám Mục chinh tòa ( Ordinary) cai quản.

Đó là tất cả ý nghĩa của đặc tính tông truyền của Giáo Hội Cộng Giáo. Các giáo phái ngoài Công Giáo -trừ Chính Thống Giáo-  thiếu đặc tính quan trọng này nên không thể có các bí tích Thánh Thể, Hòa giải, Thêm sức, và Xức dầu hữu hiệu ( valid) được vì họ không có Bi Tích truyền Chức Thánh (Holy Orders) mà Chúa Giêsu đã thiết lập trong Bữa Tiêc Ly để nhờ đó các thừa tác viên loài người là linh mục và Giám mục được chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô, Thầy Cả Thượng Phẩm theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” ( Dt 5:10). Nhờ được chia sẻ  Chức Linh Mục này mà  Giáo Hội tiếp tục dâng Hy tế đền  tội của Chúa Kitô trên bàn thờ mỗi ngày khi  các  thừa tác viên có chức linh mục là Giám mục và linh mục.cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn ( The Eucharist)

II- Về câu hỏi thứ  hai : nếu không gia nhập Giáo Hội Công Giáo thì có được cứu rỗi hay không, xin được phân biệt 2 điều quan trọng  sau đây:

1-Thứ nhất, đối với nhũng người không vì lỗi của họ  mà  không biết  Chúa Kitô và Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật được   Chúa thiết lập làm phương tiện hữu hiệu để ban ơn cứu chuộc, thì họ vẩn có thể được cứu độ theo lời dạy sau đây của Giáo Hội:

“ Đúng thế, những người không do lỗi của mình mà không biết đến Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngái, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa và nhờ ơn sủng của Người mà hành động để làm trọn thánh ý của Chúa  theo như lương tâm của họ mặc khải cho họ và truyền  dạy họ , thì  họ có thể đạt tới ơn cứu độ muôn đời. “ ( SGLGHCG số 847, LG 16)

Nói rõ hơn, trước khi Đạo Công Giáo được các thừa sai tây phương  đem sang  rao giảng ở ViệtNam vào cuối thể kỷ 16,  thì tổ tiên chúng ta không có cách nào  biết  được Chúa Kitô và Phúc Âm của Người. Nhưng đó hoàn toàn không phải là  lỗi của cha ông chúng ta  vì không có ai rao giảng hay nói cho biết thì làm sao các ngài  biết được. Tuy nhiên, nếu các ngài sống theo tiếng nói của lương tâm mình để làm điều  lành tránh sự dữ, sự tội  thì Chúa vẩn có thể cứu họ dù cho họ không được chịu phép rửa và gia nhập Giáo Hội của Chúa Kiô.

2- Ngược lại, “những người đã biết Chúa, biết Giáo Hội của Chúa là  Giáo Hội thật , là  phương tện cứu rỗi cần thiết mà vẩn không muốn gia nhập, hoặc đã gia  nhập qua Phép Rửa nhưng lại không kiên trì sống đức tin trong Giáo Hội này  thì không thể được cứu rỗi.” (Sđd, số 846)

Nói khác đi, những ai đã được rửa tội  và sống trong Giáo Hội Công Giáo  rồi ,  nhưng vì một lý do bất mãn nào đó mà  rời bỏ Giáo Hội để gia nhập một giáo phái khác, hoặc  chối bỏ  đức tin Công Giáo để sống như người vô thần, thì “không thể được cứu độ” như Giáo Hội dạy trên đây.

Nhưng  cũng cần giải thích thêm là tuy việc gia nhập Giáo Hội qua phép Rửa là cần thiết cho sự cứu rỗi , nhưng gia nhập không thôi chưa đủ, cũng như được rửa tội rồi cũng chưa chắc chung cuộc sẽ được cứu rỗi , trừ các trẻ em nhỏ mới sinh hoặc chưa đủ trí khôn biết lành biết dữ đã chết sau khi được rửa tội. Đối vói những người đã có đủ trí khôn..thì  gia nhập Giáo Hôi không giống như có  Passport và  xin được Visa là chắc chắc chắn được du lịch  đến quốc gia nào đòi phải có Visa nhập cảnh. Được rửa tội  và gia nhập Giáo Hội mới chỉ là bước đầu cần thiết cho một tiến trình dài để lớn lên  trong đức tin và sống đức tin ấy  qua nhiều thử thách của đời sống  Kitô hữu giữa trần gian.

Muốn được cứu độ, thì trước hết phải có đức tin  vì “ không có đức tin thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phát phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người.” ( Dt 11:6)

Nhưng  đức tin  phải đi kèm với hành động cụ thể nói lên niềm tin ấy ,  nếu không thì “ đó là đức tin chết” như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ dạy. ( Gc 2:17.).

Thật vậy, đức tin phải được thể hiện cụ thể bằng đức mến. Nghĩa là  tin có Chúa thì phải yêu mến Người, cố gắng sống theo đường lối của Chúa,  cụ thể là thực thi mọi giới răn của Người  như Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa :

“ Ai yêu mến Thầy ,thì sẽ giữ lời Thầy

  Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy

  Cha của Thầy và Thầy  sẽ đến ở với người ấy.( Ga 14:23)

Giữ lời Thầy có nghĩa là thực hành hai giới luật quan trong nhất là mến Chúa và yêu người như Chúa Giêsu đã trả lời cho một kinh sư kia .( Mc 12:28-31)

Thực thi những giới răn của Chúa  là chứng minh cách cụ thể đức tin và lòng mến Chúa thực sự của mình. Nếu không sẽ chỉ là người Công giáo có tên ( Nominal Catholics) chứ không phải là người tín hữu thực hành (practicing faithfuls).Và nếu chỉ là người tín hữu có tên thì việc gia  nhập Giáo Hội và lãnh phép rửa sẽ chẳng giúp ích gì cho phần rỗi của ai, vì thiếu thiện chí cộng tác với ơn thánh để được cứu rỗi. Nói rõ hơn, được rửa tội  và gia  nhập Giáo Hội rồi , nhưng nếu  không thi hành  những cam kết ( baptismal promises) khi lãnh bí tích này là  tin và yêu mến Chúa hết lòng đi kèm với quyết tâm  xa lánh mọi tội lỗi và sự dữ  thì ơn phép rửa cũng trở nên vô ích mà thôi.

Thật vậy, Chúa là tình thương và giầu lòng tha thứ. Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô  có giá trị tuyệt đối. Nhưng nếu ta không cộng tác với thiện chí muốn được cứu rỗi thể hiện qua nỗ lực chê ghét tội lỗi và quyết tâm sống theo đường lối của Chúa như Giáo Hội dạy thì Chúa không thể cứu ai được, căn cứ vào chính  lời Chúa Giêsu  phán dạy sau đây:

“ Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lạy Chúa , lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ  ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.”( Mt 7:21)     

Đó là tất cả những gì người tín hữu chúng ta cần biết  dựa trên giáo lý, tín lý  và Kinh Thánh của Giáo Hội để giúp chúng ta thêm yêu mến Giáo Hội và vững tin để sống và thực hành đức tin  trong Giáo Hội là con Tàu đưa chúng ta đến bến bờ hạnh phúc, nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa  và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô được ban phát dồi dào cho chúng ta qua sứ vụ của  Giáo Hội là Thân Thể nhiệm mầu của Người ở trần gian.

Ước mong những giải thích này thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.

Lm.  Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

Sưu tầm ngày 22.02.2017

P. Mai Tự Cường