DUC TIN TRONG SANG – CN VII TN B (19-02-2012)

Chúa nhật 7 Thường niên (B)
                                                             19.02.2012

Ngay lúc này đây, chúng ta có thể chưa cần sự chữa lành phần xác nhưng chắc chắn chúng ta cần sự chữa lành tâm linh. Đây là cách áp dụng phép lạ này cho chúng ta. Tội lỗi có thể được xem như một bệnh liệt thiêng liêng ảnh hưởng đến toàn bộ chúng ta. Nó ảnh hưởng đến tâm linh chúng ta, làm suy yếu khả năng yêu thương của chúng ta. Nó ảnh hưởng đến ý chí chúng ta: Chúng ta không thể cương quyết từ bỏ điều xấu và cam kết vĩnh viễn với điều tốt. Nó ảnh hưởng đến tinh thần chúng ta: Chúng ta không thể sống trong tự do, hy vọng và vui mừng…

Đức tin trong sáng

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Người bại liệt chịu nhiều thiệt thòi. Không làm được những việc cần làm. Không đến được những nơi muốn đến. Đức Giêsu làm phép lạ chữa nhiều bệnh. Tin ấy lan tới mọi hang cùng ngõ hẻm thành Ca-phác-na-um. Người bại liệt nghe biết, nhưng ông không làm cách nào đến gặp Đức Giêsu để xin Người chữa lành. Đó là hình ảnh của những tâm hồn bại liệt. Chúa vẫn rộng rãi ban phát ân huệ của Người, nhưng những tâm hồn bại liệt, dù muốn cũng không thể đến lãnh nhận được.

Có tâm hồn bại liệt vì yếu đuối. Tâm hồn yếu đuối bị những đam mê, dục vọng đè bẹp, không sao chỗi dậy được. Đam mê, dục vọng giống như những sợi dây, rất mềm mại nhưng cũng rất chặt chẽ. Tâm hồn bị đam mê, dục vọng trói buộc sẽ trở nên tê liệt, thấy những điều tốt đẹp nhưng ngại ngùng phấn đấu, mất hết ý chí chỗi dậy, vươn lên.

Có tâm hồn bị bại liệt vì do dự. Tâm hồn do dự có nhiều ước muốn tốt đẹp, nhưng cứ mãi băn khoăn suy tính, rồi cơ hội qua đi mà vẫn không làm được điều mong muốn. Truyện ngụ ngôn kể lại: có con ngựa vừa đói vừa khát. Người ta đem đến một máng cỏ và một máng nước. Con ngựa cứ quay sang máng nước rồi lại quay sang máng cỏ, không biết nên ăn hay nên uống trước. Sau cùng nó chết vì đói và vì khát. Ngạn ngữ Pháp có câu: Hỏa ngục được lát bằng những ước muốn tốt. Ước muốn suông mà không làm sẽ chẳng giúp thăng tiến thân phận con người.

Có tâm hồn bị bại liệt vì chai đá. Tâm hồn chai đá hoàn toàn mất hết khả năng ước muốn điều lành, thờ ơ với việc thăng tiến bản thân, dị ứng với những việc đạo đức. Đây là thứ bại liệt đáng sợ nhất.

Người bại liệt trong Tin Mừng đã tìm ra phương thế để đến với Chúa. Ông nhờ những người thân khiêng tới. Cảnh 4 anh em khiêng người bại liệt, trèo lên mái nhà, rỡ ngói, thả chiếc cáng xuống trước mặt Đức Giêsu, cho ta thấy một đức tin đơn sơ trong sáng.

Đức tin đơn sơ trong sáng không suy tính, do dự, nhưng cương quyết bắt tay vào việc làm. Nhìn thấy việc phải làm, họ bắt tay vào làm ngay không để chậm trễ, không mất thời giờ bàn bạc, so đo, tính toán, trốn tránh trách nhiệm. Biết người bệnh cần gặp Đức Giêsu, họ lập tức đi tìm cáng và bảo nhau khiêng người bệnh đến ngay.

Đức tin đơn sơ trong sáng lập tức lên đường, không chịu ngồi lỳ một chỗ. Đã quyết là lên đường ngay, không ngần ngại vì đường xa, không e dè vì gánh nặng. Họ khiêng người bệnh, nhưng bước chân vẫn thoăn thoắt, ánh mắt vẫn tin tưởng, nụ cười vẫn vui tươi vì tâm hồn họ luôn luôn sẵn sàng lên đường.

Đức tin đơn sơ trong sáng giúp họ đồng tâm nhất trí với nhau. Niềm tin chân thực loại trừ mọi xung khắc bất đồng, dẫn đến đoàn kết, hợp tác, cùng nhau làm những việc tốt có ích lợi cho người khác.

Đức tin đơn sơ trong sáng không lùi bước trước khó khăn. Gặp đám đông vây quanh, chắn lối đến với Đức Giêsu, họ không sờn lòng nản chí, không bàn chuyện tháo lui, nhưng cương quyết tìm biện pháp khắc phục những khó khăn. Đã nỗ lực đổ mồ hôi để khiêng người bệnh đến, giờ đây họ lại phải nỗ lực vận dụng mọi trí não để tìm cách đưa người bệnh đến tiếp cận Đức Giêsu. Đức tin trong sáng đã làm cho trí khôn họ trở nên sáng suốt. Họ mau chóng tìm được một lối khác để đến với Người.

Đức tin đơn sơ trong sáng có những sáng kiến tuyệt với, táo bạo. Không vào được cửa chính, họ trèo lên mái nhà. Không có cửa thì họ làm ra cửa. Tháo rỡ mái nhà quả là một biện pháp táo bạo. Biện pháp táo bạo càng chứng tỏ đức tin mãnh liệt của họ.

Đức tin trong sáng có sự tế nhị nhẹ nhàng. Chắc chắn họ phải xin phép chủ nhà và sau đó, phải lợp lại mái nhà hẳn hoi tử tế. Trước sự tế nhị của họ, chắc chắn chủ nhà phải hài lòng và cảm phục.

Đức tin trong sáng không nhiều lời. Tự những việc làm đã nói nhiều hơn những bài diễn văn lê thê. Họ chưa nói lời nào để cầu xin Chúa, nhưng nhìn thấy người bệnh được thòng xuống trước mặt mình, Đức Giêsu và tất cả mọi người đều thấy được đức tin của họ, và Đức Giêsu đã chữa bệnh trước khi họ cầu xin.

Nhìn vào đức tin trong sáng của 4 người khiêng, ta thấy đức tin của mình đang còn bị tê liệt, không hoạt động. Ta bị tê liệt vì những đam mê dục vọng trói buộc. Ta bị tê liệt vì những lười biếng thiếu cố gắng. Ta bị tê liệt vì những ước muốn nửa vời. Ta bị tê liệt vì lòng nguội lạnh thiếu nhạy cảm trước những nhu cầu thiêng liêng.

Hôm nay, ta hãy noi gương 4 người khiêng bệnh nhân. Hãy ra khỏi tình trạng tê liệt tâm hồn. Hãy lên đường, ra đi đừng ngại ngùng, do dự. Hãy biến đức tin thành những việc làm chuyên chở đức bác ái. Hãy phấn đấu vượt qua mọi khó khăn. Hãy sống đức tin một cách sáng tạo, vui tươi và đoàn kết. Một đức tin như thế sẽ trở thành ngọn đèn phá tan đi bóng tối đang phủ vây giăng mắc, soi đường cho ta đi đến với Chúa, cùng đích của đời ta.

Lạy Chúa, xin hãy thêm đức tin cho con. Amen.

X Suy Niệm:

Khi người bại liệt được đưa xuống trước mặt Ðức Giêsu,
Ngài cảm nhận ngay lòng tin mạnh mẽ của họ.
Lòng tin không chịu lùi bước trước khó khăn:
phải vượt qua đám đông chật cứng trước cửa.
Lòng tin tìm ra con đường khác thường để đến với Ðức Giêsu:
không qua bằng cửa chính, nhưng bằng lỗ hổng ở mái nhà.
Lòng tin mang tính tập thể, đồng tâm nhất trí:
người bại liệt cần bốn người bạn khiêng mình,
bốn người khiêng đồng ý cùng nhau giúp người bại liệt.
Lòng tin đòi nỗ lực, đổ mồ hôi:
khoét một lỗ to, khiêng lên mái, rồi từ từ thả xuống.
Lòng tin đòi sự tế nhị, nhẹ nhàng:
phải xin phép chủ nhà và phải sửa lại mái nhà sau đó,
phải khéo léo khi dỡ mái ngay trên chỗ Ðức Giêsu ngồi.
Lòng tin đòi sự liều lĩnh:
có thể Ðức Giêsu coi việc làm như vậy là khiếm nhã,
có thể Ngài bực bội vì bài giảng của mình bị xáo trộn.

Người nằm chõng và các người khiêng đều có lòng tin.
Nhìn họ, ta thấy mình tin ít biết chừng nào.
Tin đâu phải chỉ là thái độ của ý chí,
mà của cả con người, đầu để nghĩ, tay để làm.
Nhìn họ, ta thấy mình chưa thực sự biết muốn.
Nếu ta thực sự muốn và thực sự tin vào Chúa,
thì ta đã có thể ra khỏi sự bại liệt của mình từ lâu.

“Này con, các tội của con được tha”.
Người bại liệt chờ được khỏi, còn Ðức Giêsu lại tha tội cho anh.
Phải chăng tội là nguyên nhân cội rễ của sự bại liệt ?
Có lần Ðức Giêsu nói với một người bại liệt khác:
“Anh đã được khỏi.
Ðừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn hơn” (Ga 5,14).
Tha tội là chữa bệnh bại liệt của tâm hồn.
Như thế cuối cùng anh được giải phóng cả hồn lẫn xác.
Khi anh đứng dậy, vác chõng mà đi về nhà,
chúng ta thấy anh được tự do, hết bị trói buộc:
trói buộc vào chõng và trói buộc vào tội.

Các kinh sư bực bội khi nghe câu : “Tội con được tha.”
Họ hiểu là Ðức Giêsu tự cho mình quyền tha tội.
Như thế là phạm thượng, là tiếm quyền của một mình Thiên Chúa.
Chúng ta cần nhìn các kinh sư.
Họ ngồi một chỗ, không hề mở miệng, chỉ nghĩ trong lòng.
Họ bị khô cứng, kẹt cứng trong một nguyên tắc đúng.
Họ không tin Thiên Chúa có thể chia sẻ quyền này cho Ðức Giêsu.
Ngay khi người bại liệt đi được, có lẽ họ vẫn không tin.
Họ vẫn ngồi đó với những định kiến của mình.
Cả thân xác lẫn tinh thần của họ không dám chuyển động,
không dám mở ra để thấy cái gì khác hơn, mới hơn
mà trước đây họ chưa hề nghĩ tới.
Rốt cuộc thì ai bại liệt hơn ai?

Xin Chúa cho chúng ta thấy mình dễ bị bại liệt,
dễ khép lại trong những xác tín và công thức chắc nịch,
đến nỗi mất khả năng đón nhận những vén mở bất ngờ của Chúa.

X Cầu Nguyện:

Lạy Chúa,
xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải,
để con làm bật rễ khỏi lòng con
những ích kỷ và khép kín.

Xin cho con đức tin can đảm
để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến,
chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.

Xin cho con đức tin sáng suốt
để con thấy được thế giới
mà mắt phàm không thấy,
thấy được Ðấng Vô Hình,
nhưng rất gần gũi thân thương,
thấy được Ðức Kitô nơi những người nghèo khổ.

Xin cho con đức tin liều lĩnh,
dám mất tất cả chỉ vì yêu Chúa và tha nhân,
dám tiến bước trong bóng đêm
chỉ vì mang trong tim một đốm lửa của Chúa,
dám lội ngược dòng với thế gian
và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó.

Xin cho con đức tin vui tươi,
hạnh phúc vì biết những gì
đang chờ mình ở cuối đường,
sung sướng vì biết mình được yêu
ngay giữa những sa mù của cuộc sống.

Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp
qua những cọ xát đau thương của phận người,
để dù bao thăng trầm dâu bể,
con cũng không để tàn lụi niềm tin
vào Thiên Chúa và vào con người.

Nguồn: Manna B của LM. Nguyễn Cao Siêu, SJ

Tại sao Giáo hội của Chúa Kitô là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền?

22.02.2017.- Nhân ngày Lễ Kính ” Lập Tông Tòa Thánh Phêrô Tông Đồ, và suy niệm về quyền lãnh đạo Giáo Hội do chính Thiên Chúa qua Đức Giêsu thiết lập theo Tin Mừng Mt 16, 13-19, chúng ta cùng tìm hiểu tính chất căn bản của Giáo Hội Công Giáo ghi trong Kinh Tin Kính là “Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền” qua bài phỏng vấn sau đây:

one-holy-catholic-apostolic

Lm.  Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hỏi: xin cha giải thich : Những người chỉ trích Giáo Hội nêu lý do là trong Kinh Thánh không tìm đâu ra những từ ngữ như: duy nhất ,thánh thiện , công giáo và tông truyền. Vậy từ đâu Giáo Hội Công Giáo có những đặc tính trên đây ? và nếu không gia nhập Giáo Hội Công Giáo thì có được cứu rỗi không?

Trả lời:   Các giáo phái ngoài Công Giáo  từ xưa đến nay vẫn thường chỉ  trích Giáo Hội Công Giáo là thiếu nền tảng Kinh Thánh  nên đã phạm  nhiều lầm lỗi. Sở dĩ thế  vì họ  – các nhóm Tin Lành nói chung-  chì tin có Kinh Thánh (sola scriptura) nhưng họ cắt nghĩa Kinh Thánh theo cách đọc và hiểu của riêng họ nên  mới đả kích Giáo Hội như vậy. Thật ra, Giáo Hội Công Giáo không những có Kinh Thánh mà còn có thêm những nguồn suối chân lý khác như Mặc khải (revelatio) Thánh Truyền (Traditio) và Quyền Giáo Huấn (Magisterium) là những nền tảng mà các giáo hội ngoài Công Giáo không có và cũng không nhìn nhận giá trị. Vì thế, ta không ngạc nhiên khi có sự khác biết lớn lao giữa Công Giáo và các giáo phái về nhiều lãnh vực của đức tin. Liên quan đến bản chất  và sứ mệnh của Giáo Hội, thì sau đây là những lý do để trả lời  câu hỏi nêu ra:  

Trong Kinh Tin Kinh của Công Đồng Nicene đọc ngày Chúa Nhật và các ngày lễ trọng, Giáo hội tuyên xưng “ có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”.

1- Giáo Hội  duy nhất :

Giáo Hội là duy nhất vì Chúa Kitô chỉ thiết lập Giáo Hội này  một lần trên nền tảng các tông đồ mà Phêrô là Đá Tảng : 

“ Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực  tử thần Sẽ không thắng nổi.” ( Mt 16:18)

Như thế, Giáo Hội là duy nhất vì bắt nguồn từ “ Khuôn mẫu tối cao và nguyên lý của mầu nhiệm này nằm trong Ba Ngôi của một  Thiên Chúa duy nhất là Cha và Con trong Thánh Thần”  ( UR 2, SGLGHCG, số 813).

Nói khác đi, Giáo Hội là duy nhất vì Đấng sáng lập là Chúa Kitô cũng là Thiên Chúa duy nhất cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong một Thiên Chúa có chung  một bản  thể và uy quyền. như nhau. Như thế  đặc tính duy nhất  của  Giáo Hội thể hiện mầu nhiệm duy nhất của một Thiên Chúa có Ba Ngôi Vị

Tính chất độc nhất này của Giáo hội đã được Thánh Công Đồng Vatican II minh xác như sau: “ Đó là Giáo Hội độc nhất của Chúa Kitô mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính là duy nhất. thánh thiện, công giáo và tông truyền. Sau khi phục sinh, Đấng cứu chuộc chúng ta đã trao phó cho Phêrô chăn dắt Giáo Hội đó.(Ga 21:17). Người phó thác cho Phêrô cũng như cho các Tông Đồ khác truyền bá , cai quản (Mt 28:18 )…Như một xã hội được thiết lập qui củ trên trần gian, Giáo Hội  ấy “tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo” do Đấng kế vị Phê rô và các Giám Mục hiệp thông với ngài điều khiển…(x. Lumen Gentium, số 8) 

2-  Giáo Hội Thánh Thiện:

Giáo Hội thánh thiện vì  Chúa Kitô , Đấng sáng lập và là Đầu của Giáo Hội  được tuyên xưng là “Đấng Thánh suy nhất “ cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đã yêu thương Giáo Hội như hiền thê của mình.. .vì thế Giáo Hội là Dân thánh của Thiên Chúa và các thành viên của Giáo Hội được gọi là “các thánh” (SGLGHCG số 823)

Tuy nhiên, do bản chất loài người đã bị băng hoại vì tội nguyên tổ, cho nên các thành viên lớn nhỏ  của Giáo Hội chưa hoàn toàn là ‘các thánh” như tước hiệu được ban cho. Nghĩa là Giáo Hội vẫn bao gồm những người có tội đang cần sám hối để xin Chúa tha thứ và thánh hóa hầu xứng đáng là “ Dân thánh của Người” trong Giáo Hội có bản chất thánh thiện vì Chúa Kitô, Đầu của Giáo Hội  là Đấng Thánh, trọn lành.

3- Giáo Hội là công giáo ( catholic=universal) đặc tính này bắt nguồn từ chính Chúa Kitô, Đấng sáng lập Giáo Hội, qua hai sự kiện cụ thể được ghi lại trong Kinh Thánh Tân Ước như sau:

a-Trước hết, sau khi giáng sinh ở Bethlehem, Chúa đã tỏ mình cho dân ngoại qua  ánh sao lạ  mời gọi và dẫn đường cho ba chiêm tinh gia cũng quen gọi là Ba Vua, từ phương Đông đến thờ lạy Người. (Mt 2: 1-12) Sự kiện này cho thấy rõ  tính phổ quát ( universality) của Ơn Cứu Độ mà Chúa mang đến  không phải chỉ dành riêng cho một dân  tộc nào, – kể cả dân Do Thái, vốn là Dân riêng của Thiên Chúa,-  mà dành cho hết mọi dân tộc , thuộc mọi ngôn ngữ và văn hóa..

b- Thứ đến, trước khi về Trời, Chúa Kitô đã truyền cho các môn đệ mệnh lệnh sau đây: “ anh  em  hãy đi  và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần..” ( Mt 28:19).

Trước hết, đây  là lời Chúa  mời gọi mọi người không phân biệt màu da, tiếng nói , chủng tộc nhận biết  Chúa và lãnh ơn cứu chuộc của Người ,vì “ Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý.” ( 1Tm 2: 4).Đây cũng là lệnh truyền của Chúa Giêsu trước hết cho các Tông Đồ và các người kế vị trong Giáo Hội từ thời sơ khai cho đên ngày nay và cho đến ngày mãn thời gian, phải  đi khắp nơi để rao giảng Phúc Âm cho muôn dân để mời gọi họ đón nhận Tin Mừng  hầu được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn..

Thêm một lần nữa, đây chính là nét phổ quát của Ơn Cứu Độ mời gọi hết mọi dân tộc  không phân biệt mầu da , tiếng nói và văn hóa đón nhận để được sống hạnh phúc trường sinh trên Nước Trời.

Chúa đã thiết lập Giáo Hội như phương tiện hữu hiệu nhất để chuyên chở Ơn Cứu Độ của Người  đến cho những ai có thiện chí muốn đón nhận. Và phép Rửa là cửa ngõ đi vào Giáo Hội này.

Chính vì nét phổ quát này của Ơn Cứu Độ  mà Giáo Hội của Chúa được gọi là Công Giáo ( Catholicam, Catholic, Catholique.= Universal) vì mục đích mời gọi  hết mọi người gia nhập để trở thành Dân Thiên Chúa, hầu nhận lãnh Ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô.

Hơn nữa, Giáo Hội là Công Giáo vì có Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội này :  “ đâu có Chúa Kitô thì đấy có Giáo Hội Công Giáo” theo lời dạy của Thánh Ignatiô thành Antiokia ( Sđd, số 795 (830). Người không những hiện diện mà còn là Đầu của Giáo Hội như Thánh Phaolô đã dạy  như sau:

“ Người ( Chúa Kitô) cũng là Đầu của thân thể; nghĩa là Đầu của Hội Thánh..” ( Cl 1:18; Ep 4: 15)

Tóm lại, Giáo Hội là Công Giáo vì được Chúa Kitô thiết lập và sai đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân trên khắp địa cầu cho đến thời viên mãn.Cũng vì đặc tính phổ quát này mà Giáo Hội có bản chất truyền giáo ( missionary, evangelical) trong sứ mệnh của mình..

Sau hết , cũng cần nói lại ở đây một lần nữa là từ ngữ “ Công Giáo” ở đây hoàn toàn không có nghĩa là “công cộng=public” như có người,vì kém hiểu biết,  đã  tự chế và dich sai ra Anh ngữ  như trên nhằm mục đích đả phá Giáo Hội, vì cho là  Công Giáo muốn trở thành Quốc Giáo nên mới tự xưng là “Đạo cộng cộng=Public Religion”, một từ ngữ không hề có trong Tự điển các Tôn Giáo  trên thế giới.

4- Giáo Hội Tông Truyền ( Apostolic): Giáo Hội là Tông Truyền vì được Chúa Kitô thiếp lập trên nền tảng  các Tông Đồ mà Phêrô là “Đá Tảng” ( Mt 16:18; Ep 2:20; Cv 21:14). Chúa đã sai các Tông Đồ đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Người cho mọi dân tộc, tức là cho các ông được tham gia vào Sứ Vụ rao giảng và Cứu độ của Chúa cùng mục đích như Chúa Cha đã sai Người đến trần gian:

“Như  Chúa Cha đã sai Thầy

Thì Thầy cũng sai anh  em “ ( Ga 20:21)

Như vậy các Tông Đồ đã nhân lãnh trực tiếp từ Chúa Giêsu sứ mệnh cai quản Giáo Hội để  tiếp tục Sứ Vụ rao giảng và cứu độ của Chúa cho đến ngày  cánh chung. Các Tông Đồ đã chọn những người kế vị các ngài là các Giám mục được tuyển chọn và truyền chức thánh qua việc đặt tay ( 1 Tm 4: 14; 5: 22; 2Tm 1:6) để tiếp tục sứ vụ của các ngài trong việc cai quản , dạy dỗ và thánh hóa  Dân Chúa trong Giáo Hội , với sự cộng tác và vâng phục của các linh mục và phó tế, là những cộng sự viên đắc lực của các Giám mục.( Lumen Gentium số 20). Các Giám mục cũng vâng phục và hiệp thông trọn vẹn với Đức Thánh Cha là người kế vị Thánh Phêrô, Tông Đồ cả mà Chúa Kitô đã đặt lên để “ chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Thầy.” ( Ga 21: 15-17).Đức Thánh Cha cũng là Giám mục Rôma và là Thủ Lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ (  Universal  Catholic Church).Hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ là các Giáo Hội Công Giáo địa phương ( Local Church) hay còn gọi là các Giáo Phận ( Diocese) do một  Giám Mục chinh tòa ( Ordinary) cai quản.

Đó là tất cả ý nghĩa của đặc tính tông truyền của Giáo Hội Cộng Giáo. Các giáo phái ngoài Công Giáo -trừ Chính Thống Giáo-  thiếu đặc tính quan trọng này nên không thể có các bí tích Thánh Thể, Hòa giải, Thêm sức, và Xức dầu hữu hiệu ( valid) được vì họ không có Bi Tích truyền Chức Thánh (Holy Orders) mà Chúa Giêsu đã thiết lập trong Bữa Tiêc Ly để nhờ đó các thừa tác viên loài người là linh mục và Giám mục được chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô, Thầy Cả Thượng Phẩm theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” ( Dt 5:10). Nhờ được chia sẻ  Chức Linh Mục này mà  Giáo Hội tiếp tục dâng Hy tế đền  tội của Chúa Kitô trên bàn thờ mỗi ngày khi  các  thừa tác viên có chức linh mục là Giám mục và linh mục.cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn ( The Eucharist)

II- Về câu hỏi thứ  hai : nếu không gia nhập Giáo Hội Công Giáo thì có được cứu rỗi hay không, xin được phân biệt 2 điều quan trọng  sau đây:

1-Thứ nhất, đối với nhũng người không vì lỗi của họ  mà  không biết  Chúa Kitô và Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật được   Chúa thiết lập làm phương tiện hữu hiệu để ban ơn cứu chuộc, thì họ vẩn có thể được cứu độ theo lời dạy sau đây của Giáo Hội:

“ Đúng thế, những người không do lỗi của mình mà không biết đến Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngái, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa và nhờ ơn sủng của Người mà hành động để làm trọn thánh ý của Chúa  theo như lương tâm của họ mặc khải cho họ và truyền  dạy họ , thì  họ có thể đạt tới ơn cứu độ muôn đời. “ ( SGLGHCG số 847, LG 16)

Nói rõ hơn, trước khi Đạo Công Giáo được các thừa sai tây phương  đem sang  rao giảng ở ViệtNam vào cuối thể kỷ 16,  thì tổ tiên chúng ta không có cách nào  biết  được Chúa Kitô và Phúc Âm của Người. Nhưng đó hoàn toàn không phải là  lỗi của cha ông chúng ta  vì không có ai rao giảng hay nói cho biết thì làm sao các ngài  biết được. Tuy nhiên, nếu các ngài sống theo tiếng nói của lương tâm mình để làm điều  lành tránh sự dữ, sự tội  thì Chúa vẩn có thể cứu họ dù cho họ không được chịu phép rửa và gia nhập Giáo Hội của Chúa Kiô.

2- Ngược lại, “những người đã biết Chúa, biết Giáo Hội của Chúa là  Giáo Hội thật , là  phương tện cứu rỗi cần thiết mà vẩn không muốn gia nhập, hoặc đã gia  nhập qua Phép Rửa nhưng lại không kiên trì sống đức tin trong Giáo Hội này  thì không thể được cứu rỗi.” (Sđd, số 846)

Nói khác đi, những ai đã được rửa tội  và sống trong Giáo Hội Công Giáo  rồi ,  nhưng vì một lý do bất mãn nào đó mà  rời bỏ Giáo Hội để gia nhập một giáo phái khác, hoặc  chối bỏ  đức tin Công Giáo để sống như người vô thần, thì “không thể được cứu độ” như Giáo Hội dạy trên đây.

Nhưng  cũng cần giải thích thêm là tuy việc gia nhập Giáo Hội qua phép Rửa là cần thiết cho sự cứu rỗi , nhưng gia nhập không thôi chưa đủ, cũng như được rửa tội rồi cũng chưa chắc chung cuộc sẽ được cứu rỗi , trừ các trẻ em nhỏ mới sinh hoặc chưa đủ trí khôn biết lành biết dữ đã chết sau khi được rửa tội. Đối vói những người đã có đủ trí khôn..thì  gia nhập Giáo Hôi không giống như có  Passport và  xin được Visa là chắc chắc chắn được du lịch  đến quốc gia nào đòi phải có Visa nhập cảnh. Được rửa tội  và gia nhập Giáo Hội mới chỉ là bước đầu cần thiết cho một tiến trình dài để lớn lên  trong đức tin và sống đức tin ấy  qua nhiều thử thách của đời sống  Kitô hữu giữa trần gian.

Muốn được cứu độ, thì trước hết phải có đức tin  vì “ không có đức tin thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phát phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người.” ( Dt 11:6)

Nhưng  đức tin  phải đi kèm với hành động cụ thể nói lên niềm tin ấy ,  nếu không thì “ đó là đức tin chết” như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ dạy. ( Gc 2:17.).

Thật vậy, đức tin phải được thể hiện cụ thể bằng đức mến. Nghĩa là  tin có Chúa thì phải yêu mến Người, cố gắng sống theo đường lối của Chúa,  cụ thể là thực thi mọi giới răn của Người  như Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa :

“ Ai yêu mến Thầy ,thì sẽ giữ lời Thầy

  Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy

  Cha của Thầy và Thầy  sẽ đến ở với người ấy.( Ga 14:23)

Giữ lời Thầy có nghĩa là thực hành hai giới luật quan trong nhất là mến Chúa và yêu người như Chúa Giêsu đã trả lời cho một kinh sư kia .( Mc 12:28-31)

Thực thi những giới răn của Chúa  là chứng minh cách cụ thể đức tin và lòng mến Chúa thực sự của mình. Nếu không sẽ chỉ là người Công giáo có tên ( Nominal Catholics) chứ không phải là người tín hữu thực hành (practicing faithfuls).Và nếu chỉ là người tín hữu có tên thì việc gia  nhập Giáo Hội và lãnh phép rửa sẽ chẳng giúp ích gì cho phần rỗi của ai, vì thiếu thiện chí cộng tác với ơn thánh để được cứu rỗi. Nói rõ hơn, được rửa tội  và gia  nhập Giáo Hội rồi , nhưng nếu  không thi hành  những cam kết ( baptismal promises) khi lãnh bí tích này là  tin và yêu mến Chúa hết lòng đi kèm với quyết tâm  xa lánh mọi tội lỗi và sự dữ  thì ơn phép rửa cũng trở nên vô ích mà thôi.

Thật vậy, Chúa là tình thương và giầu lòng tha thứ. Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô  có giá trị tuyệt đối. Nhưng nếu ta không cộng tác với thiện chí muốn được cứu rỗi thể hiện qua nỗ lực chê ghét tội lỗi và quyết tâm sống theo đường lối của Chúa như Giáo Hội dạy thì Chúa không thể cứu ai được, căn cứ vào chính  lời Chúa Giêsu  phán dạy sau đây:

“ Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lạy Chúa , lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ  ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.”( Mt 7:21)     

Đó là tất cả những gì người tín hữu chúng ta cần biết  dựa trên giáo lý, tín lý  và Kinh Thánh của Giáo Hội để giúp chúng ta thêm yêu mến Giáo Hội và vững tin để sống và thực hành đức tin  trong Giáo Hội là con Tàu đưa chúng ta đến bến bờ hạnh phúc, nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa  và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô được ban phát dồi dào cho chúng ta qua sứ vụ của  Giáo Hội là Thân Thể nhiệm mầu của Người ở trần gian.

Ước mong những giải thích này thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.

Lm.  Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

Sưu tầm ngày 22.02.2017

P. Mai Tự Cường

Những nét đẹp Tin Mừng của Ngày Tết – Đức TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Mùa Xuân đến làm đẹp đất trời. Những cành đào đua nhau khoe sắc. Những chồi non bụ bẫm nhú ra khỏi cành cây khô khẳng. Chợ búa đông vui và đẹp đẽ với những hàng hóa đủ mọi loại. Những tà áo mới tha thướt làm đẹp phố phường. Trong khung cảnh vui tươi tấp nập ấy, khuôn mặt mọi người như rạng rỡ tươi cười. Mùa Xuân đem đến nhiều vẻ đẹp. Cao quý nhất là những nét đẹp văn hóa dân tộc đậm đà mầu sắc Tin Mừng.

quengianh31032010
Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt thăm Quèn Gianh năm 2008

Ngày Tết có nét đẹp của lòng biết ơn. Năm hết Tết đến, người Việt nam thường nhớ đến công ơn của những người đã giúp đỡ mình trong năm qua. Biết ơn là một nét đẹp văn hóa đáng trân trọng và cũng là một điều hợp lý. Năm 2000 phải biết ơn 1999 năm qua. Dòng sông lớn phải mang ơn những con suối nhỏ. Hạt lúa phải nhớ ơn những hạt mưa, hạt nắng, hạt phân. Ngày hôm nay phải biết ơn ngày hôm qua. Thế hệ này phải nhớ ơn thế hệ trước. Đời sống ta chịu ơn biết bao người. Cảm nghiệm sâu xa chân lý này, nên mỗi dịp Tết đến, người Việt nam ta thường bày tỏ lòng biết ơn với ông bà, cha mẹ và các ân nhân. Những món quà nho nhỏ nhưng thắm đượm tình nghĩa làm vui cả người nhận lẫn người cho. Riêng với người Công giáo, bày tỏ lòng tri ân đối với Thiên chúa là một bổn phận không thể thiếu. Vì Thiên chúa chính là tổ tiên đã sinh thành nên ta. Vì Thiên chúa là ân nhân lớn nhất đời ta. Chính Người đã ban cho ta món quà cao quý nhất: đó là sự sống. Chính Người tiếp tục chăm sóc gìn giữ ta từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây. Biết ơn là việc làm của lương tri, cổ võ cho một thế giới mới chan chứa tình người. Biết ơn cũng là một giá trị đạo đức được Chúa Giêsu đề cao trong Tin Mừng.

anh-dong-chuc-mung-nam-moi-2017-2

Ngày Tết có nét đẹp của sự cho đi. Ta gửi đi những cánh thiệp như những sứ giả của tình cảm yêu thương. Ta gửi đi những lời cầu chúc như tâm tình mến yêu tha thiết dành cho nhau. Ta sửa sang quét dọn nhà cửa để đón tiếp nhau. Ta dành thời giờ viếng thăm nhau để xiết chặt thêm tình thân ái. Ta ăn mặc tề chỉnh để tỏ lòng kính trọng nhau. Ta nói năng tế nhị để làm vui lòng nhau. Ta rộng rãi tặng tiền mừng tuổi cho con cháu. Tóm lại, tất cả những gì ta làm trong ngày Tết đều vì người khác và cho người khác. Đặc biệt trong lãnh vực ăn uống. Ngày Tết, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn đồ ăn thức uống cho gia đình, nhưng nhất là để mời khách. Khách vào nhà bao giờ cũng được mời thưởng thức ấm chè mới, nếm kẹo bánh ngon. Sự chiếu cố của khách làm vui lòng cho chủ. Sự vui vẻ của người nhận là hạnh phúc của người cho. Có niềm vui cho đi và có niềm vui lãnh nhận. Những niềm vui ấy tạo cho ngày Tết một nét đẹp đầy mầu sắc Tin Mừng: nét đẹp của sự quên mình, của sự quảng đại cho đi, của sự khiêm tốn đón nhận, của tình liên đới.

ob_036567_300wvab

Ngày Tết có nét đẹp của sự đổi mới. Thiên nhiên đổi mới với sự hồi sinh của cây cỏ. Phố phường đổi mới với những căn nhà mới, với những gian hàng mới và với quần áo mới. Hòa vào cái mới của đất trời, của xã hội, lòng người cũng nôn nao trong niềm hy vọng đổi mới bản thân và cuộc đời. Ai cũng mong tống tiễn những điều xấu vào quá khứ. Ai cũng mong đón nhận một tương lai tươi đẹp. Niềm mong ước đổi mới được thể hiện qua những cố gắng giữ vẻ mặt tươi cười, không tức giận, không nói những lời thô tục, những điều rủi ro, nhưng chỉ nói những điều tốt đẹp, đối xử hòa nhã với mọi người trong những ngày Tết. Phút giao thừa thật thiêng liêng. Nó đánh dấu một khởi đầu mới. Người ta tin rằng sống tốt đẹp những giây phút đầu tiên sẽ có ảnh hưởng tốt đến cả năm. Nên mỗi dịp Tết là một lần khuyến khích ta cố gắng đổi mới đời sống, đổi mới bản thân.

hinh-nen-dong-nam-moi-2017-858630b268dceb

Đổi mới đời sống là điều Chúa Giêsu tha thiết mong muốn nơi ta. Người không ngừng mời gọi ta hãy từ bỏ con đường tội lỗi xưa cũ, bước vào con đường mới, con đường tự do, thánh thiện của con cái Thiên chúa. Người không ngừng mời gọi ta trở thành bầu da mới để có thể chứa đựng thứ rượu mới là giáo lý của Người. Ngày Tết chính là một cơ hội cho ta thực hành Lời Chúa dạy, tích cực đổi mới đời sống nên tốt đẹp hơn.

Với tất cả những nét đẹp trên đây, tinh thần ngày Tết cổ truyền dân tộc rất gần gũi với Tin Mừng. Rõ ràng nét đẹp văn hóa Việt nam đã chất chứa những giá trị Tin Mừng. Rõ ràng Tin Mừng đang đi vào cuộc sống của người Việt nam.

hinh-nen-dong-nam-moi-2017-1058630af69f130

Vì thế, người Việt nam Công giáo không những có trách nhiệm gìn giữ những nét đẹp văn hóa của ngày Tết cổ truyền mà còn phải biến những nét đẹp ấy thành những trang Tin Mừng sống động. Khi ta sống tâm tình biết ơn trong ngày Tết, đừng chỉ giữ hình thức bề ngoài hay chỉ chú ý tới khía cạnh vật chất. Hãy có tâm tình biết ơn sâu xa. Hãy nhìn thấy ơn Chúa ban qua mọi ân huệ nhận được. Khi ta cho đi trong ngày Tết, đừng chỉ cho đi như một hình thức xã giao hay như một thói tục bắt buộc. Hãy cho đi với tâm tình yêu mến, kính trọng thực sự. Hãy đón tiếp khách thăm viếng như đón tiếp chính Chúa. Khi ta muốn đổi mới đời sống, đừng chỉ giữ như một hình thức và không chỉ giữ trong những ngày Tết, nhưng duy trì sự cố gắng đổi mới trong suốt cả đời với quyết tâm thực sự đổi mới đời sống.

hinh-nen-dong-nam-moi-2017-1258630b0b3f1a2

Khi ta sống tinh thần Tin Mừng trong những phong tục ngày Tết, ta góp phần xây dựng một mùa Xuân mới, một mùa Xuân dân tộc, một mùa Xuân tình thương. Mùa Xuân ấy sẽ vĩnh cửu vì sẽ dẫn đến mùa Xuân Nước Trời.

Lạy Đức Kitô là mùa Xuân đích thực, không bao giờ tàn úa, xin đổi mới tâm hồn con. Amen

Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt

Nguồn: http://conggiao.info/nhung-net-dep-tin-mung-cua-ngay-tet-d-4722

Sưu Tầm: P. Mai Tự Cường

NGHE NHẠC MÙA XUÂN:

BẤM NGHE: CHÚA MÃI LÀ MÙA XUÂN – DAVID ĐÔNG – THU THỦY

Kính chúc Quý Vị & Các Bạn:

MỘT NĂM MỚI ĐINH DẬU 2017

NGẬP TRÀN NIỀM VUI TÌNH YÊU GIA ĐÌNH &

KHANG AN VÀ HẠNH PHÚC!

P. Mai Tự Cường

Kon Tum, 08.01.2017

925993bonneanneedentelledelune30

Gọi tên ngày lễ BA VUA & HIỂN LINH – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

ba-vua-dang-le-vat

Trong dịp tĩnh tâm Mùa Vọng ở một giáo xứ, có người bạn trẻ đã nêu lên câu hỏi liên quan đến Thánh Lễ hôm nay: “Tại sao ngày nay Phụng Vụ không sử dụng tên gọi lễ Ba Vua nữa? Phải chăng rốt cuộc chẳng có ông vua nào đến viếng Hang đá cả?”

.

Câu hỏi ấy trực tiếp về mặt kiến thức, không khó trả lời; nhưng gián tiếp về mặt tâm linh, lại hé mở cho thấy đức tin hôm nay xem ra đang có nhu cầu tìm hiểu. Đã đành, hiểu chưa phải là tin hay chưa hẳn đã tin, nhưng một phần nào cũng góp phần dẫn tới đức tin cho người chưa tin, đào sâu đức tin cho người đã biết, và cũng quan trọng không kém là củng cố sức mạnh cho những niềm tin đang ở trong tình trạng nhạt nhòa.

Niềm tin là một công trình còn phải dựng xây và là một hành trình còn phải tiếp tục. Trên cơ sở ấy, xin đi vào Thánh Lễ hôm nay.

1) Từ tên gọi “lễ Ba Vua”…

Đây là tên gọi quen dùng đối với tín hữu Việt Nam, để chỉ về việc các Đạo sĩ Đông Phương tìm đến Hang đá viếng Chúa Hài Đồng. Gọi là vua vì họ là những bậc quyền quý đến từ phương Đông theo nhãn giới của bài đọc thứ nhất; và xác định con số ba vì có ba sắc dân được nói đến trong Isaia 60, mà cũng vì lễ vật tiến dâng được liệt kê ba món rành rành là vàng, nhũ hương và mộc dược, như chuyện kể của Phúc Âm. Để rồi cứ thế theo truyền thống, Ba Vua đã trở nên tên gọi cho ngày lễ.

Nhưng điều quan trọng không phải là lo xác định họ là vua hay không phải là vua, họ có ba vị hay có thể có nhiều hơn nữa, mà chính là hãy nhìn họ như hình ảnh sống động của tất cả những ai trong đời đã có một lòng khát khao chân thành tìm kiếm Thiên Chúa khởi đi từ những thiện hảo tốt lành, để rồi với sự trợ giúp của ơn thánh, tới lúc Chúa muốn và bằng muôn ngàn cách thế linh động theo sáng kiến của Ngài, họ sẽ được dẫn tới gặp gỡ Đấng họ nỗ lực tìm kiếm.

Dưới cái tên gọi “lễ Ba Vua”, chính là một thiện chí tìm kiếm đức tin. Nhưng cũng dưới tên gọi ấy, trong bối cảnh của trang Tin Mừng, người ta lại còn thấy cả một đối chứng đau lòng. Trong khi dân ngoại từ xa, dẫu chẳng hề biết đến lời hứa để mà hy vọng, chẳng hề có được giao ước để mà tin tưởng, và cũng chẳng hề được dẫn đường bởi lề luật, nhưng lại chân thành tìm kiếm và sẵn sàng vượt qua những chặng đường gian khổ để mà tìm gặp; thì ngược lại, dân Do Thái ở gần, dẫu có tất cả thuận lợi của một truyền thống dài lâu chờ mong Đấng Cứu Thế, lại không mảy may kiếm tìm, và tệ hại hơn nữa, còn xôn xao về chính việc Chúa đến, không phải vì hối hận về việc mình không sẵn sàng, mà vì lo ngại rằng Chúa đến sẽ đặt dấu chấm hết cho cả một cơ chế họ đã bao đời gầy dựng. Không lạ gì nếu cơ chế ấy đã sản sinh ra những khuôn mặt như Hêrôđê!

Hóa ra, Ba Vua tìm Chúa với lễ vật lòng thành, khi về đã thấy mình là những kẻ tin; còn Hêrôđê tìm Chúa với ác tâm tận diệt, mãi mãi sẽ thấy mình chỉ là một bạo chúa.

epiphanyvs

2) … Đến tên gọi “lễ Hiển Linh”…

Mặc dù tên gọi “lễ Ba Vua” vẫn giữ nguyên giá trị cổ kính, nhưng ngày nay Phụng Vụ thích sử dụng tên gọi “lễ Hiển Linh” hơn, chẳng phải vì tên gọi đó nghe kêu hơn hoặc hiểm hóc hơn, cũng chẳng phải để tránh né những câu hỏi không cần thiết về những chi tiết nhiều khi chỉ làm cho ngày lễ thêm rườm rà; mà thật ra là để làm nổi bật lên ý định mầu nhiệm chung nhất của Thiên Chúa trong Mùa Giáng Sinh. Đó là: Ngài muốn tỏ mình ra cho tất cả mọi người, mọi thời, bất luận họ là ai và ở đâu, miễn là họ biết chân thành kiếm tìm Ngài.

Nếu “Ba Vua” là tên gọi nói lên thiện chí của con người, thì “Hiển Linh” là danh xưng khẳng định hồng ân của Thiên Chúa. Thiện chí thôi, dẫu rất lớn, vẫn chỉ là khởi điểm; nhưng chính hồng ân Hiển Linh mới là kết điểm mở ra những mùa gặp gỡ. Và tới phiên mình, mỗi lần gặp gỡ tại kết điểm hành trình, lại là một khởi điểm mới cho hành trình tìm kiếm mới, với những thiện chí mới nhằm vươn lên những đỉnh cao mới.

gs-le-rang-dong-_nam-c-2012-2013

Và gặp gỡ như thế là một cuộc đổi đời. Vì thiện chí luôn tìm kiếm hồng ân, mà cũng vì hồng ân luôn đợi chờ một thiện chí biến đổi cuộc đời. Ba Vua gặp Chúa với cả tâm tình được thể hiện qua những lễ vật tiến dâng, họ đã được soi sáng để theo đường khác mà về nhà. Và ở đó sẽ là những cuộc Hiển Linh mới trong đời sống thường ngày.

Gặp ai thì cũng có thể gỡ ra được, nhưng thiện chí con người một khi đã gặp được Thiên Chúa vốn từ bao giờ đã sẵn tỏ mình ra, thì sẽ không thể gỡ ra được nữa. Người ta thành người nhà của Thiên Chúa, và trong mắt nhìn của Phaolô, người ta dẫu xa cũng hóa gần, dẫu lạ cũng nên quen, dẫu gốc gác thế nào đi nữa “cũng cùng được thừa hưởng gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (bài đọc thứ hai). Hiển Linh chính là tên gọi khác của mầu nhiệm Nhập Thể, của danh xưng Emmanuel và của bốn mùa gặp gỡ.

3) … Để dẫn tới sứ điệp đời sống.

“Lễ Ba Vua” hay “Lễ Hiển Linh”, mỗi tên gọi có những bước nhấn riêng, nhưng rốt cuộc cũng chỉ là một mầu nhiệm gặp gỡ mà Thiên Chúa từ bao thuở đã mở ra cho những kẻ biết kiếm tìm. Thế nên đây không chỉ là một biến cố của ngày đã qua, mà còn là một sứ điệp của ngày hôm nay và cho những ngày sẽ tới. Chúa vẫn tỏ mình, nhưng vấn đề là người ta có thiện chí đến gặp Ngài không.

Hôm qua đã có một nghịch lý là những kẻ đến gặp Chúa đều là những kẻ thành tâm như các mục đồng tại Bêlem, như cụ già Simêon tại Đền Thánh, như những Đạo sĩ hôm nay từ xa đến; còn toàn thể xã hội tôn giáo Do Thái lại hầu như vắng bóng, hay nếu có thì chỉ như một lực cản đáng buồn. Thế đấy! điều tưởng như thuận lợi lại là một cạm bẫy dẫn tới sự thảm bại, còn điều tưởng chừng như bất lợi lại trở nên lợi thế cho việc gặp Chúa. Liệu nghịch lý ấy hôm nay còn có mặt trong đời sống đức tin của cộng đoàn cũng như của mỗi cá nhân?

Trả lời câu hỏi ấy với quyết tâm khởi hành trên con đường mới, thiết tưởng sẽ là một điều tích cực trong Mùa Giáng Sinh. Nhưng điều tích cực hơn của ngày lễ hôm nay không chỉ là sứ điệp hoán cải, mà chính là lời mời gọi mở rộng tấm lòng, mà trân trọng tất cả những người không cùng chia sẻ một niềm tin với mình, bởi lẽ họ cũng có chỗ đứng trong tấm lòng hiển linh của Chúa. Ơn cứu độ là phổ quát. Và nếu nét đặc trưng của lễ Hiển Linh là ánh sao dẫn đường, thì trách nhiệm của những kẻ đã được gặp gỡ Thiên Chúa sẽ không chỉ thu hẹp trong đời sống cá nhân tu thân tích đức, mà còn hướng tới sứ vụ đối với những kẻ lân cận mình. Những chứng tá đức tin cậy mến, những gương sáng đời sống gia đình, những nỗ lực thực thi các giá trị Phúc Âm chính là những ánh sao cụ thể soi đường truyền giáo.

Nếu mỗi kẻ tin là ánh sao, con đường gặp gỡ biết bao sáng ngời, và lời tiên báo của tiên tri Isaia sẽ nên hiện thực hiển linh cho đời.

Tóm lại, khởi đi từ cách hiểu về tên gọi của ngày lễ để dẫn tới đời sống đức tin, đó là chủ đích của những điều chia sẻ trên đây. Nhưng từ hiểu biết đến đức tin, khoảng cách vẫn không nhỏ. Chính Phúc Âm hôm nay là một kinh nghiệm. Xin đừng để kinh nghiệm ấy mãi còn là một nghịch lý không thể vượt qua. Nhưng hãy để kinh nghiệm ấy biến thành những kinh nguyện quyết tâm mở sang cuộc sống mới. Và đó chính là cách gọi tên cụ thể một ngày lễ.

 ***

Tác giả bài viết: ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Nguồn: http://dongkhiettam.org/index.php?language=vi&nv=news&op=Phut-suy-tu/Goi-ten-ngay-le-124

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

2015-01-01-anim-boule-voeux-15s

CHÚC MỪNG NĂM MỚI &

HAPPY NEW YEAR 2017

HAPPY NEW YEAR 2017 & ĐINH DẬU

Như một Phaolô ngày xưa. -Thánh Stêphanô Théodore CUÉNOT THỂ

Thánh Stêphanô Théodore CUÉNOT THỂ, Giám mục thừa sai Paris (1820-1861)

 

11/10/2012 10:03:27 PM

Như một Phaolô ngày xưa.

Duc Cha Stephano Cuenot The (400 x 600)

Cuộc đời thánh Giám mục Cuénot Thể với 32 năm phục vụ Giáo Hội Việt Nam, 26 năm trong chức vụ Giám mục, gắn liền với những trang sử đẹp nhất, giữa một giai đoạn khó khăn nhất thời bách hại. Nhiệt tâm truyền giáo của ngài như ngọn thủy triều dâng tràn đến mọi nơi. Với tài đức khéo léo, ngài đã đào tạo một đội ngũ linh mục xuất sắc và hàng ngàn thày giảng, nữ tu hăng say. Với châm ngôn “Để tín hữu vững tin, phải đào tạo những tông đồ truyền giáo”, nên dù cho bao linh mục, tu sĩ, giáo dân của ngài bị tàn sát, giáo phận Đàng Trong của ngài vẫn phát triển mạnh mẽ, đủ sức tách làm bốn giáo phận. Số linh mục, tu sĩ, tân tòng gia tăng nhanh mỗi năm, sẽ mãi mãi là bằng chứng của nhiệt tâm và tài tổ chức của ngài.

Stêphanô Théodore Cuénot sinh ngày 08.02.1802 tại Sous Réamont thuộc Bélieu nước Pháp. Lớn lên cậu vào chủng viện Besancon, trung tâm huấn luyện của cha Réceveur, và thụ phong linh mục ngày 24.09.1825. Tuy thế, hoài bão chính của tân linh mục là đi truyền giáo. Năm 1828, cha Cuénot xin gia nhập hội Thừa Sai Paris, và năm sau được cử đến Việt Nam. Ngày 31.5.1829, cha đến Kẻ Vĩnh, giáo phận Đàng Ngoài. Ngày 24.7, cha vào Miền Nam.

Mới đầu cha được gửi đến Lái Thiêu để học thêm tiếng Việt, đồng thời dạy các chủng sinh ở đó. Bốn năm dạy ở chủng viện, tuy là thời gian ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để cha hiểu nhiều về phong hóa địa phương, gắn bó với các cộng tác viên trong tương lai. Năm 1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo trên toàn quốc, triệt hạ các nhà thờ, tập trung các thừa sai và bắt các tín hữu phải bỏ đạo. Vì mới lần đầu va chạm với bách hại, các tín hữu khi đó chưa dám chứa chấp các vị thừa sai. Đức cha Tabert Từ liền quyết định đưa các vị di tản qua Thái Lan. Cha Thể phụ trách việc di tản 15 chủng sinh. Sau hơn một tháng rưỡi hành trình vất vả, đoàn người đã đến Thái Lan và được vua Thái tiếp đón nồng nhiệt.

Thời gian đó, Thái Lan và Việt Nam đang có chiến tranh, nên vua Thái Lan muốn nhờ các vị thừa sai kêu gọi dân Công Giáo chống lại vua Minh Mạng. Dĩ nhiên là Đức cha Tabert Từ không thể nào chấp nhận, ngài cương quyết từ chối. Điều đó làm Thái Hoàng nổi giận và thay đổi cách cư xử. Nhà vua ra lệnh bắt giam ba linh mục và các chủng sinh Việt Nam. May là nhờ tài ăn nói thuyết phục của cha Thể, vua mới nương tay và cho họ đến ẩn náu tại chủng viện Pénang (Mã Lai) năm 1834. Cha nói: “Bằng mọi giá phải lo cho họ. Như tôi (một thừa sai) chết, người ta có thể gửi người khác thay thế chậm lắm là một năm. Một linh mục, chủng sinh Việt Nam nằm xuống, phải mất hai ba chục năm mới có người thay thế được”.

Cũng năm đó, vì không ủng hộ Thái Lan đánh Việt Nam, Đức cha Tabert Từ lại phải chạy đến Singapore.

Hoa tiêu giữa sóng gió

Tuy sống cách xa nghìn dặm, Đức cha, cha Thể và các vị thừa sai vẫn hướng tâm hồn về Giáo Hội Việt Nam đang lâm cảnh máu chảy đầu rơi, vừa thương xót vừa thán phục, các ngài tìm cách trở lại miền đất truyền giáo này. Năm 1835, Đức cha Tabert có quyết định mới. Khi thấy trên mảnh đất Lạc Hồng chỉ còn hai thừa sai và 10 linh mục Việt Nam, Đức cha liền đáp tàu sang Pénang, truyền chức Giám mục cho cha Thể, chọn làm phụ tá mình, và cử vị tân Giám mục cấp tốc trở về giáo phận.

100_7536

Trở lại Việt Nam trong những ngày bách hại khốc liệt, sự hiện diện của Đức cha Thể quả là niềm an ủi lớn lao cho các tín hữu. Đặt trụ sở tại Gò Thị, tỉnh Bình Định, Đức cha thấy mình không thể đi thăm hết các họ đạo được, ngài liền việt thư luân lưu gửi đến khắp nơi để cổ võ tinh thần đạo đức của giáo hữu. Từ nay tất cả các biến cố trong giáo phận: Những cuộc càn quét của quân lính, những chứng nhân bị bắt giam, những cuộc tử đạo, cho đến những thành quả tông đồ, đều được người cha chung giáo phận cảm thông, viết thư khen ngợi, ủy lao hay khích lệ. Nhờ đó, các linh mục và giáo hữu đều thấy thêm can đảm.

Việc Đức cha bận tâm nhất là số các linh mục phục vụ. Ngoài hai linh mục đã theo ngài về từ Thái Lan, năm 1835, Đức cha truyền chức cho 10 thày giảng. Năm sau, ngài xin Hội Thừa Sai thêm sáu linh mục. Là người sáng suốt nhìn xa trông rộng, Đức cha cho tái lập hai chủng viện, một hở Huế trao cho cha Candalh Kim và một ở miền Nam trao cho cha Lefèbvre Nghĩa. Đồng thời Đức cha cũng gọi các nữ tu Mến Thánh Giá trước đây đã phải phân tán về gia đình (250 dì) trở lại sống chung và hoạt động trong 18 nhà phước.

Ngày 31.7.1840, Đức cha Tabert Từ qua đời tại Calcutta (Ấn Độ), Đức cha Thể chính thức làm đại diện Tông tòa. Năm sau ngài tổ chức lễ tấn phong cho tân Giám mục Lefèbvre Nghĩa làm phụ tá. Lợi dụng tình hình lắng dịu hơn, ngài tổ chức Công Đồng Gò Thị (1841) gồm ba thừa sai và 13 linh mục Việt trong giáo phận (1). Công Đồng dưới sự điều khiển của Đức cha Thể, đã đưa ra những nguyên tắc sáng suốt để đào tạo một lớp linh mục bản xứ đông đảo và nhiệt thành. Nếu việc mở chủng viện khó khăn, mỗi thừa sai có trách nhiệm dạy sáu bảy em, rồi gửi qua Pénang học bảy năm. Họ sẽ về Việt Nam thụ phong linh mục và làm việc. Cách tổ chức ấy trong thực tế đã cung cấp cho giáo phận Đàng Trong một số khá đông linh mục thông thái và đạo đức.

Vị chủ chăn nhiều tài năng và sáng kiến.

Dù hoàn cảnh khó khăn, Đức cha vẫn quan tâm đến việc nâng cao kiến thức và nhân đức cho hàng giáo sĩ, mỗi năm ngài gởi cho các linh mục những bài học hỏi về tín lý, luân lý. Các cha sẽ viết bài nộp trong kỳ tĩnh tâm hàng năm. Sau đó, chính Đức cha đọc, sửa bài và gửi thư nhắn nhủ cho từng linh mục. Đối với giáo hữu, Đức cha chủ trương rằng “Phương pháp tốt nhất để đức tin của các giáo hữu vững vàng là đào tạo họ thành những tông đồ truyền giáo”. Thực vậy, nhờ giải thích cho các khác về giáo lý, các giáo hữu ngày càng xác tín hơn về niềm tin của mình. Hơn nữa, họ tự thấy nghĩa vụ làm gương cho anh em tân tòng về đời sống đạo và tinh thần can đảm giữ vững đức tin.

Đối với những giáo hữu vì sợ hãi đã xuất giáo, đạp lên Thánh Giá, Đức cha sẵn lòng thay mặt Chúa tha thứ. nhưng ngài xin họ nhận một điều kiện là hứa giúp cho một lương dân theo đạo Công Giáo. Bên cạnh đó, hàng năm Đức cha làm thống kê báo tin xứ đạo nào có nhiều tân tòng hơn, khiến các xứ thi đua làm việc tông đồ. Đặc biệt phải nói đến lòng can đảm của các nữ tu Mến Thánh Giá. Các chị chia nhau, cứ hai người một, đi hết các làng mạc, phát thuốc men cho bệnh nhân, và khi có thể, rửa tội cho trẻ em sắp chết. Năm 1835, khi Đức cha mới về Việt Nam, số trẻ em ngoại giáo được rửa tội là 133 em, thì năm 1841 là 1800 em và năm 1843 là 8273 em. Năm 1844, số trẻ em gia đình Công Giáo được rửa tội là 5056 thì số người lớn trở lại và rửa tội là 1007, nghĩa là một phần năm.

Nhiều giáo hữu sẵn sàng bỏ tiền bạc, cong sức nuôi dùm trẻ em những người quá nghèo, chỉ với điều kiện là cho em gia nhập đạo. Lòng bác ái sâu xa ấy quả là bài giảng hùng hồn về sức sống của Giáo Hội. Nhiều người thiện chí, và đôi khi cha mẹ các em cũng xin trở lại vì những bài giảng sống này.

Một công trình lớn lao khác của Đức cha Thể là công cuộc truyền giáo cho các dân tộc thiểu số miền Thượng du, đặc biệt là dân tộc Bahnar. Chính Đức cha cử nhiều đợt người theo dõi, khích lệ và đưa ra những chỉ đạo thích hợp để anh em Thượng nhận Ánh Sáng Tin Mừng.

Những thành công lớn lao của Đức cha đã được Tòa Thánh công nhận năm 1844 khi phân chia giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận Đông (Quy Nhơn) và Tây (Sài Gòn). Tiếp theo đến năm 1850, lại chia làm bốn là Nam Vang, Sài Gòn, Bắc (Huế) và Quy Nhơn. Từ đây Đức cha Thể chỉ coi sóc giáo phận Đông Đàng Trong, nhưng lại ở trong tình hình bách hại mới gay gắt hơn nhiều.

Lòng kính mến Đức Mẹ.

Trong 10 năm liền, nhờ sự che chở của các tín hữu và các nữ tu Mến Thánh Giá, Đức cha và các linh mục thoát khỏi cuộc truy lùng. Thế nhưng các ngài phải thay đổi chỗ ở liên tục, nhiều đêm ngủ ngoài trời “đêm sao”, có lúc phải vào rừng sâu hay đầm lầy, chịu đói chịu khát, chịu khí hậu thất thường và nhiều lần suýt chết trong khi thăm viếng bệnh nhân hay giải tội cho người hấp hối. Thế mà trong thời gian này, Đức cha duy trì thường xuyên mối liên lạc với tòa Thánh. Đặc biệt khi được hỏi về tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, ngài đã trao đổi với các linh mục trong giáo phận, rồi gửi thư bày tỏ lòng kính mến Đức Maria của dân Việt cho Tòa Thánh. Cuối thư Đức cha viết: “Xin Đức Thánh Cha cho được hiệp thông trong lời cầu nguyện cùng với tất cả các Giám mục khác trong ngày Đức Thánh Cha long trọng công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Tù tội và rao giảng Tin Mừng

Năm 1861, chiếu chỉ “phân sáp” của vua Tự Đức làm Giáo Hội Việt Nam một phen điêu đứng. Đức cha Thể đã khuyên các thừa sai trong giáo phận đi tản vào Sài Gòn, nhưng chính ngài tình nguyện ở lại, ngài đưa ra một phương châm bất hủ: “Dù chỉ còn một thừa sai chẳng làm được gì ngoài việc đọc kinh thần vụ, thì nguyên việc hiện diện của vị đó đủ để nâng đỡ niềm tin và sinh hoạt của tín hữu rồi”.

Từ tháng 10, Đức cha phải bỏ Gò Thị trốn từ nhà này sang nhà khác. Ngày 24.10.1861, ngài đang ẩn ở nhà bà Madalena Huỳnh Thị Lựu thì quân lính bao vây nhà bà.

Đức cha và hai chú giúp lễ kịp trốn xuống hầm, nhưng vì vừa dâng lễ xong chưa kịp cất giấu đồ lễ. Vì chứng cớ ấy mà quân lính thề phá nhà, nếu không tìm thấy đạo trưởng Tây Dương. Mọi người trong nhà đều bị tra tấn, bà Lựu bị đánh đòn 17 roi. Sau hai ngày và một đêm ở dưới hầm, Đức cha và hai chú giúp lễ khát khô cả cổ. Vả lại vì quân lính chẳng bỏ đi, nếu chưa bắt được Đức cha, nên ngài tự ra nộp mình. Vừa thấy ngài, quân lính chồm tới trói tay chân ngài lại như một con thú. Nhưng viên chỉ huy nhân đạo hơn, cho cởi trói và mời ngài ngồi chiếu nói chuyện với ông ta.

Hôm sau, Đức cha bị nhốt trong cũi đưa về tỉnh. Hai chú giúp lễ, bà Lựu và hai người lân cận cũng bị mang gông giải đi (sau này tất cả cùng bị xử tử tháng 12). Bà Lựu vừa cho con bú vừa ra pháp trường, rồi hôn con lần cuối trao lại cho bà ngoại. Tháng 10 năm đó, miền Trung bị lụt, nước dâng lên đến lưng, nên ngồi trong cũi chật chội, Đức cha cũng bị ngập nước. Do đó, khi đến nhà giam thì Đức cha lâm trọng bệnh. Chứng kiết lị làm sức khỏe ngài càng đuối dần, vì thế ngài chỉ phải ra tòa một lần. Quan hỏi:

– Tại sao ông sang nước tôi?

– Thưa, để giảng đạo Thiên Chúa.

– Ông ở đây bao lâu rồi?

– Ba mươi bốn năm.

– Ông đã ở những đâu?

– Thưa, trước hết là Bình Định rồi Phú Yên, Bình Thuận và lại trở về Bình Định.

– Ông biết gì về chiến tranh không?

– Thưa, không biết gì cả. Tôi đến đây chỉ để giảng đạo, khi nơi này khi nơi khác thế thôi. Quan hành hạ thế nào tôi cũng đành chịu, chứ tin tức chiến tranh tôi hoàn toàn không biết gì cả.

Trở về với chiếc cũi của mình, cơn bệnh khắc nghiệt chỉ trong vòng ba tuần lễ đã làm Đức cha kiệt sức và thở hơi cuối cùng ngày 14.11.1861, kết thúc 32 năm truyền giáo không một ngày bình an.

Hôm sau, ngày Đức cha qua đời, bản án trảm quyết từ Huế mới đến Bình Định. Thấy ngài đã từ trần, quan Trấn thủ Bình Định không cho chém nữa, truyền đem đi chôn, những tín hữu đang bị tù xin phép mua cho Đức cha một áo quan xứng đáng, nhưng Trấn thủ không chấp thuận. Nhưng sau đó, triều đình lại gửi ra một bản án mới ghi thế này: “Tây dương đạo trưởng Thể đã lấn lút trong nước ta 40 năm nay. Y đã giảng đạo và lừa dối dân chúng. Bị bắt và tra hỏi, y đã thú nhận mọi tội lỗi. Lẽ ra phải đem chém đầu y bêu lên giữa chợ, nhưng vì y đã chết trong tù, ta truyền phải quăng xác y xuống sông”.

Chiếu theo bản án ấy, quan Trấn thủ cho đào mồ Đức cha lên để liệng thi hài Đức cha xuống sông.

Mặc dù Đức cha Cuénot Thể không đổ máu vì đức tin, nhưng căn cứ vào bản án và muôn ngàn nỗi truân chuyên ngài đã chịu vì đạo, Giáo Hội tôn kính Đức cha với tước hiệu tử đạo.

Ngày 02.05.1909, Đức Piô X nêu danh Đức cha Stêphanô Théodore Cuénot Thể đứng đầu danh sách 20 vị tử đạo tại Việt Nam được suy tôn lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Lm. Đào Trung Hiệu, OP

THÀNH PHỐ BUỒN -Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

10/31/2016 9:56:29 AM

Nơi đó lâu nay vẫn được gọi là thành phố buồn. Một thành phố không có những ồn ào của cuộc vui, không có những tiếng nhạc xập xình, không có những cãi vã, bon chen. Một thành phố chẳng ai muốn vào, vì chẳng có gì hấp dẫn, không có gì bắt mắt, không có gì làm cho người ta thấy hứng khởi.

thanhphobuon

Một thành phố được bao trùm bởi sự im lặng đến khủng khiếp, đến kinh người. Cũng có những hàng cây, những con đường nhỏ, nhưng phần lớn chỉ là cỏ dại phủ xanh, bụi đường hòa vào không khí. Nơi ấy buồn thật vì chẳng nghe được tiếng cười. Tiếng cười mà phát lên từ nơi ấy càng khiến người ta thêm hoảng hốt. Thành phố ấy đượm màu thê lương vì đó là nơi chẳng ai muốn đến dù họ biết rằng một ngày nào đó, họ sẽ được đưa vào đây, bất lực nằm trong những miếng gỗ lạnh tanh, vây quanh là những tiếng khóc sầu buồn ai oán.

Chỉ cần dạo bước một vòng quanh nghĩa trang, ta sẽ thấy cuộc đời này thật phong phú. Bước vào nơi đấy, người ta bỗng thấy mình nhỏ lại giữa dòng đời, giữa cuộc sống, giữa lịch sử dài đằng đẵng của kiếp nhân sinh. Những tấm hình, những cái tên được khắc trên bia mộ như hiển hiện trước mắt ta biết bao sự sống đã từng tồn tại nhưng bây giờ đã tan biến mất đi. Có những người đã về với lòng đất hàng chục hay thậm chí hàng trăm năm trước. Họ đã sinh ra và chết đi khi nào? Có những ngôi mộ tồn tại từ lâu lắm rồi, ngay cả cái tên cũng không còn rõ nét. Có những chỏm đất nhô lên, ta thậm chí không thể biết rằng nó chỉ đơn thuần là khối đất hay là một ngôi mộ của ai đó bị thời gian làm cho phôi phai. Lớp cỏ xanh cho ta thấy sự phũ phàng của cuộc sống. Nhành hoa dại gợi lên nét buồn thăm thẳm không tên. Mùi khói nhang như đưa ta vào cõi vô thường lạc lõng.

vita

Dưới những ngôi mộ kia chỉ là những bộ xương trắng, đang dần mục nát, hòa quyện vào lớp đất tối đen. Nơi thành phố buồn này, đâu phải chỉ có người nghèo nàn, người xấu xí, người già cả, người bệnh tật, người vô danh tiểu tốt. Cái chết đến với tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, sức khỏe, chủng tộc, địa vị, giới tính… Sự phong phú của cuộc đời rốt cuộc lại đưa dẫn con người đến một cái đích chung: cái chết. Cái chết chẳng chừa ai, nó không sợ cường quyền, nó không nhận hối lộ, nó không mềm lòng trước lời kêu xin. Nó thích đến với ai thì đến, khi đang ngủ, khi đang đi xe, khi đang đi chơi, khi ăn uống, khi vui cười, khi đang mơn mởn tuổi xuân, khi đang ở đỉnh cao danh vọng… chứ không nhất thiết phải là người già cả, đầu bạc trắng phong sương. Ai biết được, những người nằm kia đã từng giàu có thế nào, xinh đẹp ra sao… Giờ đây, cả núi vàng cũng không thể ban cho họ sự sống, cả tỷ người hâm mộ cũng chẳng thể cứu họ khi cái chết vẫy chào. Thế đấy, con người mãi mãi chỉ là một loài thụ tạo nhỏ nhoi, chẳng bao giờ có thể thoát ra được sự kiềm hãm của thời gian, gắng gượng cho lắm rồi cũng chỉ nằm gọn trong vài tất đất nơi thành phố buồn này thôi.

datthanh

Ta thường gọi người chết là những người đã lìa thế. Người ta cầu mong cho họ được an nghỉ thiên thu. Họ lìa thế giới này để đến một nơi an nghỉ. Nghĩa trang yên ắng, vì nơi đây, người ta hệt như đang nằm ngủ, sau một chặng đường dài gian nan của cuộc sống. Khi người ta nhắm mắt xuôi tay, ấy là khi người ta chìm vào một giấc ngủ say, tận hưởng khoảng không yên bình, thanh thản, xa lánh hết tất cả những tranh giành, cấu xé của nhân gian. Họ bước vào thế giới mới, bỏ lại đằng sau mọi bám víu vô nghĩa. Mặc ai cứ tiếp tục nổi chìm với thế sự ngoài kia, họ chẳng còn bận tâm dòm ngó nữa, chỉ nằm im nơi đây, tận hưởng cái yên bình khi tách mình ra khỏi mọi ảo tưởng, những cuộc chạy đua. Khi đã ngủ rồi, người ta thấy thời gian như ngừng trôi, chỉ một thoáng thôi mà đã bao nhiêu năm trôi qua. Về với cõi bình an thì một năm, hai năm, trăm năm hay nghìn năm, tất cả đều như nhau. Nhắm mắt lại rồi, người ta đi vào sự “thiên thu” có nghĩa là như thế.

100_1465

Khu mộ đồng nhi Tân Phát, Kon Tum

Đã đành, đây là nơi của sự xa cách, của chia tay, của giọt nước mắt và tiếng khóc than. Nhưng với niềm tin, tôi thấy thành phố này chẳng buồn tí nào. Tất cả mọi con người nơi đây như đang nằm ngủ. Sự im ắng là để không làm phiền đến họ, là để họ có thể nghe được tiếng “ầu ơ” của Thiên Chúa, người mẹ hiền đang vỗ về cho giấc ngủ ấy thêm bình yên, thêm ấm áp. Nơi mảnh đất có vẻ u ám và đáng sợ này, mọi người như trở về về với sự nhỏ bé, bất lực của mình, nhưng hơn hết là về với tuổi thơ, về với vòng tay Mẹ, về với những gì là thân thương và ấm cúng nhất. Sẽ chẳng còn gì là xa cách, cũng chẳng có gì là sợ hãi khi người ta có một niềm tin mạnh mẽ và một niềm hy vọng vững vàng vào Đấng có thể cứu mình khỏi cái chết. Những người nằm kia, họ không bị xoá sổ khỏi sự hiện hữu, không trở về với hư vô, không tan biến đi giữa cuộc đời. Họ chỉ đang nằm nghỉ, đang an giấc và đang chờ được đánh thức dậy để hợp đoàn trở lại với tất cả anh chị em yêu dấu của mình trong ngôi nhà của Cha.

100_1472

Khu mộ đồng nhi Tân Phát, Kon Tum

Niềm tin Kitô giáo không bao giờ mang đến cho người ta nỗi buồn. Chẳng có thành phố nào là thành phố buồn đối với người đặt trọn cuộc đời mình, số phận mình, sự sinh tồn của mình nơi Chúa Tể của sự sống. Người ta “nhắm mắt” lại chính là để mở mắt ra mà đón chào cái mới, chứng kiến Thiên Chúa thực hiện một cuộc tạo dựng mới, tái cấu trúc lại tất cả bằng quyền năng của Thánh Thần. Người ta “xuôi tay” chính là để không nắm giữ những gì hư ảo nữa, nhờ đó mà có thể thanh thản ôm lấy chính Thiên Chúa, nguồn cội hạnh phúc đời mình. “Nhắm mắt, xuôi tay” là đưa mình vào tư thế bị động, để Thiên Chúa hoàn thành nơi mình công trình tạo dựng và cứu chuộc đang còn dang dở, là biến mình thành trẻ thơ, trở về nằm gọn trong vòng tay Thiên Chúa. Bình yên, thanh thản, hạnh phúc!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

(dongten.net 31.10.2016)

Nguồn: http://conggiao.info/thanh-pho-buon-d-38589

Sưu tầm 2.11.2016: P. Mai Tự Cường

picture-287

Viếng nghĩa trang Houston, TX

eee484f1

Cuối Thu 2.11. 2016

NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ (Mt5,3) – Lễ Các Thánh Nam Nữ 1-11-2016

 

chuagiesukitovacacthanhtongdo_6531218091

Lời Chúa (Mt 5,1-12a)

1 Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đám đông dân chúng, Người lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. 2 Người mở miệng dạy họ rằng:

3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước trời là của họ.

4 “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Hứa làm gia nghiệp.

5 “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

6 “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.

7 “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

8 “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

9 “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

10 “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước trời là của họ.

11 “Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

12 Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”

allsaintsvs

Suy Niệm

Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh,

hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng.

Các thánh không phải chỉ là những vị được tôn phong,

mà là tất cả những ai đang hưởng hạnh phúc trên trời.

Các thánh thật khác nhau về nhiều mặt:

giới tính, tuổi tác, màu da, tiếng nói, nghề nghiệp,

hoàn cảnh, thời đại, bậc sống, khả năng, tính tình…

Có người không biết viết như thánh nữ Catarina Siêna.

Có người đậu tiến sĩ triết hạng tối ưu như thánh Edith Stein.

Có người làm bao phép lạ phi thường như ngôn sứ Êlia.

Có người sống âm thầm như chị Têrêsa nhỏ.

Nói chung chẳng gì có thể ngăn cản chúng ta nên thánh,

vì Thiên Chúa muốn mọi người nên thánh chẳng trừ ai.

Các mối phúc là con đường nên thánh.

Con đường này chính Ðức Kitô đã đi và mời ta cùng đi.

Ngài mời ta có tâm hồn nghèo khó, hiền lành,

nghĩa là hoàn toàn tín thác vào một mình Thiên Chúa,

có lòng khát khao sự công chính, chỉ mong làm trọn ý Ngài.

Trong tương quan với tha nhân, Ðức Kitô mời ta

có lòng thương xót, biết đau nỗi đau của người khác,

có tâm hồn trong sạch, nghĩa là sống ngay thẳng, chân thành,

có tinh thần xây dựng hòa bình và công bằng xã hội,

nghĩa là chăm lo phát triển toàn diện từng người và mọi người.

Sống các mối phúc trên là chấp nhận mối phúc bị bách hại.

Mỗi vị thánh đều sống nổi bật trong một số mối phúc.

Họ đã nếm phần nào hạnh phúc từ đời này

trước khi hưởng hạnh phúc trọn vẹn bền vững trên trời.

Chúng ta thường nghĩ nên thánh là chuyện cao siêu

dành cho một thiểu số hêt sức đặc biệt.

Thật ra mọi kitô hữu đều được mời gọi nên thánh.

“Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời.”

Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn mọi sự thánh thiện.

Ngài mời chúng ta chia sẻ sự thánh thiện của Ngài.

Nên thánh là đáp trả lời mời đó.

Khi chiêm ngắm các thánh, ta có thể hiểu nên thánh là gì.

Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống,

là ra khỏi cái tôi hẹp hòi của mình

đẻ sống hết tình cho Thiên Chúa và tha nhân.

Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa

và trung thành đáp lại trong giây phút hiện tại.

Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa tặng trao,

là để cho Chúa yêu mình, nắm tay mình,

dắt mình vào thế giới riêng tư của Chúa.

Nên thánh là thuộc trọn về Chúa và về anh em,

là để Chúa dần dần chiếm lấy mọi chỗ của đời mình.

Chúa mời tôi nên thánh với con người và hoàn cảnh riêng.

với sa ngã của quá khứ và mỏng dòn của hiện tại,

với cái dằm vẫn thường xuyên làm tôi nhức nhối.

Chúa muốn tôi nên thánh với mặt mạnh, mặt yếu của tôi.

Ước gì đời tôi vén mở một nét nào đó của Chúa.

Gợi Ý Chia Sẻ

Các vị thánh rất khác nhau mà lại rất giống nhau. Theo ý bạn, đâu là những nét giống nhau nơi khuôn mặt các vị thánh mà bạn yêu mến?

Một vị thánh ở đất nước Việt Nam, vào thế kỷ 21, có những nét nào mà bạn cho là không thể thiếu?

cacthanhnamnu-628x422

Cầu Nguyện

Lạy Cha,

con phó mặc con cho Cha,

xin dùng con tùy sở thích Cha.

Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.

Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.

Miễn là ý Cha thực hiện nơi con

và nơi mọi loài Cha tạo dựng,

thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.

Con trao linh hồn con về tay Cha.

Con dâng linh hồn con cho Cha,

lạy Chúa Trời của con,

với tất cả tình yêu của lòng con.

Vì con yêu mến Cha,

vì lòng con yêu mến

thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,

thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,

không so đo,

với một lòng tin cậy vô biên,

vì Cha là Cha của con.

Charles de Foucauld

Nguồn: Trích Tập Manna C của Lm. AnTôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Sưu Tầm: P. Mai Tự Cường

vita

Sự sống chỉ thay đổi, chứ không mất đi!

Tháng Kính nhớ các Đẳng Linh Hồn

1/11/2016

P. Mai Tự Cường