DUC TIN TRONG SANG – CN VII TN B (19-02-2012)

Chúa nhật 7 Thường niên (B)
                                                             19.02.2012

Ngay lúc này đây, chúng ta có thể chưa cần sự chữa lành phần xác nhưng chắc chắn chúng ta cần sự chữa lành tâm linh. Đây là cách áp dụng phép lạ này cho chúng ta. Tội lỗi có thể được xem như một bệnh liệt thiêng liêng ảnh hưởng đến toàn bộ chúng ta. Nó ảnh hưởng đến tâm linh chúng ta, làm suy yếu khả năng yêu thương của chúng ta. Nó ảnh hưởng đến ý chí chúng ta: Chúng ta không thể cương quyết từ bỏ điều xấu và cam kết vĩnh viễn với điều tốt. Nó ảnh hưởng đến tinh thần chúng ta: Chúng ta không thể sống trong tự do, hy vọng và vui mừng…

Đức tin trong sáng

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Người bại liệt chịu nhiều thiệt thòi. Không làm được những việc cần làm. Không đến được những nơi muốn đến. Đức Giêsu làm phép lạ chữa nhiều bệnh. Tin ấy lan tới mọi hang cùng ngõ hẻm thành Ca-phác-na-um. Người bại liệt nghe biết, nhưng ông không làm cách nào đến gặp Đức Giêsu để xin Người chữa lành. Đó là hình ảnh của những tâm hồn bại liệt. Chúa vẫn rộng rãi ban phát ân huệ của Người, nhưng những tâm hồn bại liệt, dù muốn cũng không thể đến lãnh nhận được.

Có tâm hồn bại liệt vì yếu đuối. Tâm hồn yếu đuối bị những đam mê, dục vọng đè bẹp, không sao chỗi dậy được. Đam mê, dục vọng giống như những sợi dây, rất mềm mại nhưng cũng rất chặt chẽ. Tâm hồn bị đam mê, dục vọng trói buộc sẽ trở nên tê liệt, thấy những điều tốt đẹp nhưng ngại ngùng phấn đấu, mất hết ý chí chỗi dậy, vươn lên.

Có tâm hồn bị bại liệt vì do dự. Tâm hồn do dự có nhiều ước muốn tốt đẹp, nhưng cứ mãi băn khoăn suy tính, rồi cơ hội qua đi mà vẫn không làm được điều mong muốn. Truyện ngụ ngôn kể lại: có con ngựa vừa đói vừa khát. Người ta đem đến một máng cỏ và một máng nước. Con ngựa cứ quay sang máng nước rồi lại quay sang máng cỏ, không biết nên ăn hay nên uống trước. Sau cùng nó chết vì đói và vì khát. Ngạn ngữ Pháp có câu: Hỏa ngục được lát bằng những ước muốn tốt. Ước muốn suông mà không làm sẽ chẳng giúp thăng tiến thân phận con người.

Có tâm hồn bị bại liệt vì chai đá. Tâm hồn chai đá hoàn toàn mất hết khả năng ước muốn điều lành, thờ ơ với việc thăng tiến bản thân, dị ứng với những việc đạo đức. Đây là thứ bại liệt đáng sợ nhất.

Người bại liệt trong Tin Mừng đã tìm ra phương thế để đến với Chúa. Ông nhờ những người thân khiêng tới. Cảnh 4 anh em khiêng người bại liệt, trèo lên mái nhà, rỡ ngói, thả chiếc cáng xuống trước mặt Đức Giêsu, cho ta thấy một đức tin đơn sơ trong sáng.

Đức tin đơn sơ trong sáng không suy tính, do dự, nhưng cương quyết bắt tay vào việc làm. Nhìn thấy việc phải làm, họ bắt tay vào làm ngay không để chậm trễ, không mất thời giờ bàn bạc, so đo, tính toán, trốn tránh trách nhiệm. Biết người bệnh cần gặp Đức Giêsu, họ lập tức đi tìm cáng và bảo nhau khiêng người bệnh đến ngay.

Đức tin đơn sơ trong sáng lập tức lên đường, không chịu ngồi lỳ một chỗ. Đã quyết là lên đường ngay, không ngần ngại vì đường xa, không e dè vì gánh nặng. Họ khiêng người bệnh, nhưng bước chân vẫn thoăn thoắt, ánh mắt vẫn tin tưởng, nụ cười vẫn vui tươi vì tâm hồn họ luôn luôn sẵn sàng lên đường.

Đức tin đơn sơ trong sáng giúp họ đồng tâm nhất trí với nhau. Niềm tin chân thực loại trừ mọi xung khắc bất đồng, dẫn đến đoàn kết, hợp tác, cùng nhau làm những việc tốt có ích lợi cho người khác.

Đức tin đơn sơ trong sáng không lùi bước trước khó khăn. Gặp đám đông vây quanh, chắn lối đến với Đức Giêsu, họ không sờn lòng nản chí, không bàn chuyện tháo lui, nhưng cương quyết tìm biện pháp khắc phục những khó khăn. Đã nỗ lực đổ mồ hôi để khiêng người bệnh đến, giờ đây họ lại phải nỗ lực vận dụng mọi trí não để tìm cách đưa người bệnh đến tiếp cận Đức Giêsu. Đức tin trong sáng đã làm cho trí khôn họ trở nên sáng suốt. Họ mau chóng tìm được một lối khác để đến với Người.

Đức tin đơn sơ trong sáng có những sáng kiến tuyệt với, táo bạo. Không vào được cửa chính, họ trèo lên mái nhà. Không có cửa thì họ làm ra cửa. Tháo rỡ mái nhà quả là một biện pháp táo bạo. Biện pháp táo bạo càng chứng tỏ đức tin mãnh liệt của họ.

Đức tin trong sáng có sự tế nhị nhẹ nhàng. Chắc chắn họ phải xin phép chủ nhà và sau đó, phải lợp lại mái nhà hẳn hoi tử tế. Trước sự tế nhị của họ, chắc chắn chủ nhà phải hài lòng và cảm phục.

Đức tin trong sáng không nhiều lời. Tự những việc làm đã nói nhiều hơn những bài diễn văn lê thê. Họ chưa nói lời nào để cầu xin Chúa, nhưng nhìn thấy người bệnh được thòng xuống trước mặt mình, Đức Giêsu và tất cả mọi người đều thấy được đức tin của họ, và Đức Giêsu đã chữa bệnh trước khi họ cầu xin.

Nhìn vào đức tin trong sáng của 4 người khiêng, ta thấy đức tin của mình đang còn bị tê liệt, không hoạt động. Ta bị tê liệt vì những đam mê dục vọng trói buộc. Ta bị tê liệt vì những lười biếng thiếu cố gắng. Ta bị tê liệt vì những ước muốn nửa vời. Ta bị tê liệt vì lòng nguội lạnh thiếu nhạy cảm trước những nhu cầu thiêng liêng.

Hôm nay, ta hãy noi gương 4 người khiêng bệnh nhân. Hãy ra khỏi tình trạng tê liệt tâm hồn. Hãy lên đường, ra đi đừng ngại ngùng, do dự. Hãy biến đức tin thành những việc làm chuyên chở đức bác ái. Hãy phấn đấu vượt qua mọi khó khăn. Hãy sống đức tin một cách sáng tạo, vui tươi và đoàn kết. Một đức tin như thế sẽ trở thành ngọn đèn phá tan đi bóng tối đang phủ vây giăng mắc, soi đường cho ta đi đến với Chúa, cùng đích của đời ta.

Lạy Chúa, xin hãy thêm đức tin cho con. Amen.

X Suy Niệm:

Khi người bại liệt được đưa xuống trước mặt Ðức Giêsu,
Ngài cảm nhận ngay lòng tin mạnh mẽ của họ.
Lòng tin không chịu lùi bước trước khó khăn:
phải vượt qua đám đông chật cứng trước cửa.
Lòng tin tìm ra con đường khác thường để đến với Ðức Giêsu:
không qua bằng cửa chính, nhưng bằng lỗ hổng ở mái nhà.
Lòng tin mang tính tập thể, đồng tâm nhất trí:
người bại liệt cần bốn người bạn khiêng mình,
bốn người khiêng đồng ý cùng nhau giúp người bại liệt.
Lòng tin đòi nỗ lực, đổ mồ hôi:
khoét một lỗ to, khiêng lên mái, rồi từ từ thả xuống.
Lòng tin đòi sự tế nhị, nhẹ nhàng:
phải xin phép chủ nhà và phải sửa lại mái nhà sau đó,
phải khéo léo khi dỡ mái ngay trên chỗ Ðức Giêsu ngồi.
Lòng tin đòi sự liều lĩnh:
có thể Ðức Giêsu coi việc làm như vậy là khiếm nhã,
có thể Ngài bực bội vì bài giảng của mình bị xáo trộn.

Người nằm chõng và các người khiêng đều có lòng tin.
Nhìn họ, ta thấy mình tin ít biết chừng nào.
Tin đâu phải chỉ là thái độ của ý chí,
mà của cả con người, đầu để nghĩ, tay để làm.
Nhìn họ, ta thấy mình chưa thực sự biết muốn.
Nếu ta thực sự muốn và thực sự tin vào Chúa,
thì ta đã có thể ra khỏi sự bại liệt của mình từ lâu.

“Này con, các tội của con được tha”.
Người bại liệt chờ được khỏi, còn Ðức Giêsu lại tha tội cho anh.
Phải chăng tội là nguyên nhân cội rễ của sự bại liệt ?
Có lần Ðức Giêsu nói với một người bại liệt khác:
“Anh đã được khỏi.
Ðừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn hơn” (Ga 5,14).
Tha tội là chữa bệnh bại liệt của tâm hồn.
Như thế cuối cùng anh được giải phóng cả hồn lẫn xác.
Khi anh đứng dậy, vác chõng mà đi về nhà,
chúng ta thấy anh được tự do, hết bị trói buộc:
trói buộc vào chõng và trói buộc vào tội.

Các kinh sư bực bội khi nghe câu : “Tội con được tha.”
Họ hiểu là Ðức Giêsu tự cho mình quyền tha tội.
Như thế là phạm thượng, là tiếm quyền của một mình Thiên Chúa.
Chúng ta cần nhìn các kinh sư.
Họ ngồi một chỗ, không hề mở miệng, chỉ nghĩ trong lòng.
Họ bị khô cứng, kẹt cứng trong một nguyên tắc đúng.
Họ không tin Thiên Chúa có thể chia sẻ quyền này cho Ðức Giêsu.
Ngay khi người bại liệt đi được, có lẽ họ vẫn không tin.
Họ vẫn ngồi đó với những định kiến của mình.
Cả thân xác lẫn tinh thần của họ không dám chuyển động,
không dám mở ra để thấy cái gì khác hơn, mới hơn
mà trước đây họ chưa hề nghĩ tới.
Rốt cuộc thì ai bại liệt hơn ai?

Xin Chúa cho chúng ta thấy mình dễ bị bại liệt,
dễ khép lại trong những xác tín và công thức chắc nịch,
đến nỗi mất khả năng đón nhận những vén mở bất ngờ của Chúa.

X Cầu Nguyện:

Lạy Chúa,
xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải,
để con làm bật rễ khỏi lòng con
những ích kỷ và khép kín.

Xin cho con đức tin can đảm
để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến,
chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.

Xin cho con đức tin sáng suốt
để con thấy được thế giới
mà mắt phàm không thấy,
thấy được Ðấng Vô Hình,
nhưng rất gần gũi thân thương,
thấy được Ðức Kitô nơi những người nghèo khổ.

Xin cho con đức tin liều lĩnh,
dám mất tất cả chỉ vì yêu Chúa và tha nhân,
dám tiến bước trong bóng đêm
chỉ vì mang trong tim một đốm lửa của Chúa,
dám lội ngược dòng với thế gian
và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó.

Xin cho con đức tin vui tươi,
hạnh phúc vì biết những gì
đang chờ mình ở cuối đường,
sung sướng vì biết mình được yêu
ngay giữa những sa mù của cuộc sống.

Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp
qua những cọ xát đau thương của phận người,
để dù bao thăng trầm dâu bể,
con cũng không để tàn lụi niềm tin
vào Thiên Chúa và vào con người.

Nguồn: Manna B của LM. Nguyễn Cao Siêu, SJ

11.8.- Mừng Lễ Thánh Nữ CLARA, đồng trinh, Đấng sáng lập Dòng Nữ Clara

Clare

Thánh Nữ Clara, đồng trinh, 11-8

Thánh Clara là thiếu nữ xinh đẹp của một gia đình giàu có ở Assisi. Thánhnữ sinh năm 1193 tại Assisi miền Umbria, thuộc dòng họ danh giá Offreducciô. Người ta nói thánh nữ sinh ra với nụ cười trên môi và không bao giờ thấy Ngài khóc. Khi được mười tám tuổi, trong một lần lắng nghe bài giảng của thánh Phanxicô Assisi, ngài đã được đánh động bởi tiếng kêu gọi sống hiến dâng cho Thiên Chúa. Vì thế ngài đã cương quyết noi gương các tu sĩ Phanxicô, quyết tâm sống khó nghèo và tận hiến cho Thiên Chúa. Gia đình ngài hoảng sợ nên đã dùng vũ lực để ép buộc ngài phải trở về nhà; nhưng một đêm kia, ngài đã trốn ra khỏi nhà qua “cánh cửa người chết” (cánh cửa nhỏ để khiêng người chết ra ngoài), và đến với các tu sĩ Phanxicô.

claraphanxico

Thánh Nữ Clara và Thánh Phanxicô Assisi

Trong một nhà nguyện nhỏ bé ở ngoại ô, thánh Phanxicô đã cắt mái tóc của Clara và trao cho thánh nữ chiếc áo nâu thô kệch làm chiếc áo dòng. Sau đó thánh nữ sống với các nữ tu dòng Bênêđíctô cho đến khi có thêm những phụ nữ khác cũng gia nhập, trong đó có cả người mẹ góa bụa của ngài và các phụ nữ thuộc gia đình quý tộc ở Florence.

Cộng đoàn nhỏ bé ấy dần dần được biết đến dưới tên gọi Các Chị Em Hèn Mọn (các tu sĩ Phanxicô là Anh Em Hèn Mọn). Khi tu hội được thành lập, thánh Phanxicô đề nghị Clara làm bề trên, nhưng ngài từ chối cho đến khi được hai mươi mốt tuổi. Các nữ tu trong dòng tận tụy trong việc cầu nguyện, chăm sóc bệnh nhân và thi hành việc bác ái cho người nghèo và người bị ruồng bỏ.

Hotel Domus Pacis Assisi Panorama

Hotel Domus Pacis Assisi Panorama

assisi_0_300x222_1

Họ sống theo một quy luật khắc khổ hơn bất cứ nữ tu thuộc tu hội nào khác trong thời ấy. Tuyệt đối khó nghèo cả về phương diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Họ đi chân đất, không có giường, mà nằm trên các khúc gỗ được kết lại và chăn mền là vỏ cây gai dệt thành. Họ ăn rất ít và không bao giờ ăn thịt. Thực phẩm của họ là tất cả những gì xin được. Bất kể sự khắc khổ của đời sống là như thế, nhưng những người theo thánh nữ lại là những thiếu nữ xinh đẹp nhất Assisi và lúc nào họ cũng có niềm vui vì được sống gần Thiên Chúa.

Với một đời sống luôn lấy Chúa làm cùng đích, thánh Clara đã luôn tâm niệm: “Tất cả cho Chúa, tất cả vì phần rỗi các linh hồn”. Thánh nữ hằng tâm niệm: “Không có chi không thể, không có chi nặng nề hay khó khăn đối với tình yêu“. Thánh nữ đã sống đời sống thánh thiện và luôn giúp các chị em Hội dòng nên thánh. Thánh Clara làm bề trên tu viện trong bốn mười năm mà trong đó hai mươi chín năm ngài luôn đau yếu. Nhưng lúc nào ngài cũng vui vẻ vì cho rằng đó là sự phục vụ Thiên Chúa. Nhiều người cho rằng các nữ tu đau yếu là vì quá khắc khổ. Ngài nói: “Họ nói chúng tôi quá nghèo khổ, nhưng một tâm hồn có được Thiên Chúa vĩnh cửu thì có thực sự nghèo hay không?

St. Clare

Thánh Nữ Clara, đồng trinh, Đấng sáng lập Dòng Nữ tu Clara ( Dòng Chị Em Hèn Mọn)

Sau một cuộc đời tận tụy, thánh nữ đã về với Chúa trong bình an ngày 11 tháng 8 năm 1253 trước sự thương tiếc của mọi người. Chỉ hai năm sau, ngài được Đức Giáo Hoàng Alexander IV phong thánh.

Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng yêu thương! Chúa đã ban cho chúng con thánh Clara, một mẫu gương sống đời nghèo khó và phục vụ người khác với lòng bác ái khiêm nhường. Xin cho chúng con biết sống theo gương thánh nhân để ngày càng nên giống Chúa Kitô trong đời sống chúng con. Amen.

Pet. Hải Văn SDB

Nguồn: http://loichua.donboscoviet.net/index.php/suy-nie-m-ca-c-nga-y-le/chu-tha-nh/item/351-ng%C3%A0y-11-th%E1%BA%AFng-th%C3%A1nh-n%E1%BB%AF-clara

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

nenchaykonen2

MỪNG LỄ KHẤN VĨNH VIỄN

CỦA QUÝ CHỊ EM HÈN MỌN DÒNG NỮ CLARA – PHAN SINH

TẠI NHA TRANG 11-8-2016

Kính chúc Quý Chị Em vui sống bền vững trong ơn gọi tận hiến cho Chúa Giêsu KiTô!

P. Mai Tự Cường

Ơn gọi dòng thánh nữ Clara § Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

St. Clare

Thánh Nữ Clara, Trinh Nữ, 11-8

Với tín trung và trìu mến, THIÊN CHÚA gọi con một lần rồi hai lần rồi ba lần, giống như Chúa gọi Samuel thưở xưa. Lần đầu chập chờn kín ẩn trong tuổi dậy thì và sinh viên. Vào thời kỳ đó con thường lo âu tự hỏi:

– Mình đi đâu và đi đến với Ai, với Người nào?

Nhưng thắc mắc ấy bị đam mê du hành bóp nghẹt và vùi dập mất hút.

Học xong, con bắt đầu ngay nghề giáo. Đây là khoảng thời gian phong phú đáp ứng khát vọng trí thức và nhu cầu du hành của con. Con vui chơi tận hưởng cuộc đời. Chỉ duy một điều lạ: mặc dầu có tất cả, đầy đủ mọi sự con vẫn cảm thấy khoảng trống nội tâm không gì lấp đầy được. Con như tìm kiếm một Ai đó, một Người nào khác! Cuộc sống con như bị dằn co lôi kéo giữa 2 nẻo đường: một bên là ồn ào náo động bề ngoài và bên kia là trầm lắng kín ẩn bên trong. Cùng thời gian này, THIÊN CHÚA Quan Phòng cho con cơ hội quen biết nhóm giáo dân sống Đạo chân thành, sống hiệp thông sâu xa với Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Cuộc gặp gỡ mang lại cho con kinh nghiệm thiêng liêng bất ngờ và có sức mạnh biến đổi hẳn cuộc đời con.

Vào năm ấy, con tham dự cuộc hành hương Ba Lan. Từ thủ đô Varsava chúng con đi bộ tiến về Đền Thánh Đức Mẹ ở Czestochowa. Khi tiến lên đồi cao Jasna Gora cùng với hàng ngàn tín hữu Công Giáo Ba Lan khác, tức khắc trong con chín mùi hình ảnh một Giáo Hội lữ hành. Khi đến Đền Thánh, vào Nhà Nguyện nhỏ nơi có bức ảnh Đức Mẹ Đen, con quì cầu nguyện thật lâu và thật sốt sắng. Con linh cảm được kêu gọi thực thi đức trinh khiết.

Trở về nhà, con cẩn thận xem xét có thật được gọi sống đời đồng trinh hay không. Con tưởng tượng ngay: có lẽ mình sẽ tận hiến cho THIÊN CHÚA trong tư cách giáo dân sống độc thân giữa đời. Con nghĩ thế, bởi lẽ trái tim con vẫn còn bị vây bọc bởi trăm ngàn thú vui giả tạo ở trần gian này. Xin nói thêm, lúc ấy tính tình con hay lơ đãng, không thích kỷ luật và ưa tò mò. Có một dạo con như bị rơi vào khủng hoảng tinh thần.

THIÊN CHÚA Quan Phòng lại can thiệp. Con thoát ra khỏi cơn khủng hoảng nhờ tìm kiếm, gặp gỡ và suy niệm LỜI CHÚA. Con tiến những bước thật khiêm tốn.

Thời gian trôi qua trong vòng vài năm. Tháng 8 năm 1991 con trở lại Czestochowa nhân Ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 6. Lần ấy Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 ký thác cho giới trẻ chúng con nhiệm vụ tái truyền giảng TIN MỪNG. Riêng con, một lần nữa, con được diễm phúc chiêm ngắm bức ảnh Đức Mẹ Đen Jasna Gora. Con chăm chú nhìn khuôn mặt dịu-hiền thoảng nét u-buồn của Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA, Nữ Vương nước Ba Lan. Chính lúc ấy con cảm nghiệm rõ ràng tiếng Chúa gọi con. Con hiểu rằng từ lâu lắm rồi THIÊN CHÚA yêu con. Ngài chờ con đáp lại tiếng Ngài.

Con can đảm dứt khoát đáp lại tiếng gọi. THIÊN CHÚA đưa con vào đan viện các Nữ Tu Kín dòng Thánh Clara ở Porto Viro (Bắc Ý). Đan Viện dâng kính Khiết Tâm Đức Mẹ MARIA. Nơi đây, mọi vấn nạn cuộc đời con được giải đáp thỏa đáng. Con gặp đời sống thiêng liêng phong phú. Con đắm mình trong kinh nguyện và trong cuộc sống huynh đệ chân tình.

Nơi Đan Viện, Kinh nguyện riêng và chung được phân phối cách hòa điệu trải dài suốt ngày, trong đó có giờ quì chầu trước Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Tình huynh đệ san sẻ trong Cộng Đoàn làm nổi bật nét đẹp khó nghèo của con cái Cha thánh Phanxicô và Mẹ thánh Chiara thành Assisi. Riêng con, con còn đặc biệt sùng kính Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA. Đức Mẹ là Hiền Mẫu con. Chính Đức Mẹ khơi nguồn ơn gọi và tháp tùng con suốt trong cuộc sống nữ tu nghèo Clara.

Giờ đây nơi Đan Viện Kín, con chân thành cầu chúc nhiều bạn trẻ cũng tìm được niềm vui chân thật và tràn đầy khi thực hiện lý tưởng sống cho cuộc đời mình. Mong thay!

(Nữ tu Kín Clara, Carla Lucia).

(”Grande Opera Mariana GESÙ e MARIA”, Luglio-Settembre/2004, n.3, trang 39).

(Radio Vatican)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

0013

11.8.- Mừng Lễ Thánh Nữ CLARA, đồng trinh, Đấng sáng lập Dòng Nữ Clara

Clare

Thánh Nữ Clara, đồng trinh, 11-8

Thánh Clara là thiếu nữ xinh đẹp của một gia đình giàu có ở Assisi. Thánh nữ sinh năm 1193 tại Assisi miền Umbria, thuộc dòng họ danh giá Offreducciô. Người ta nói thánh nữ sinh ra với nụ cười trên môi và không bao giờ thấy Ngài khóc. Khi được mười tám tuổi, trong một lần lắng nghe bài giảng của thánh Phanxicô Assisi, ngài đã được đánh động bởi tiếng kêu gọi sống hiến dâng cho Thiên Chúa. Vì thế ngài đã cương quyết noi gương các tu sĩ Phanxicô, quyết tâm sống khó nghèo và tận hiến cho Thiên Chúa. Gia đình ngài hoảng sợ nên đã dùng vũ lực để ép buộc ngài phải trở về nhà; nhưng một đêm kia, ngài đã trốn ra khỏi nhà qua “cánh cửa người chết” (cánh cửa nhỏ để khiêng người chết ra ngoài), và đến với các tu sĩ Phanxicô.

claraphanxico

Thánh Nữ Clara và Thánh Phanxicô Assisi

Trong một nhà nguyện nhỏ bé ở ngoại ô, thánh Phanxicô đã cắt mái tóc của Clara và trao cho thánh nữ chiếc áo nâu thô kệch làm chiếc áo dòng. Sau đó thánh nữ sống với các nữ tu dòng Bênêđíctô cho đến khi có thêm những phụ nữ khác cũng gia nhập, trong đó có cả người mẹ góa bụa của ngài và các phụ nữ thuộc gia đình quý tộc ở Florence.

Cộng đoàn nhỏ bé ấy dần dần được biết đến dưới tên gọi Các Chị Em Hèn Mọn (các tu sĩ Phanxicô là Anh Em Hèn Mọn). Khi tu hội được thành lập, thánh Phanxicô đề nghị Clara làm bề trên, nhưng ngài từ chối cho đến khi được hai mươi mốt tuổi. Các nữ tu trong dòng tận tụy trong việc cầu nguyện, chăm sóc bệnh nhân và thi hành việc bác ái cho người nghèo và người bị ruồng bỏ.

Hotel Domus Pacis Assisi Panorama

                                                                         Hotel Domus Pacis Assisi Panorama

Hotel Domus Pacis Assisi Panorama

assisi_0_300x222_1

Họ sống theo một quy luật khắc khổ hơn bất cứ nữ tu thuộc tu hội nào khác trong thời ấy. Tuyệt đối khó nghèo cả về phương diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Họ đi chân đất, không có giường, mà nằm trên các khúc gỗ được kết lại và chăn mền là vỏ cây gai dệt thành. Họ ăn rất ít và không bao giờ ăn thịt. Thực phẩm của họ là tất cả những gì xin được. Bất kể sự khắc khổ của đời sống là như thế, nhưng những người theo thánh nữ lại là những thiếu nữ xinh đẹp nhất Assisi và lúc nào họ cũng có niềm vui vì được sống gần Thiên Chúa.

Với một đời sống luôn lấy Chúa làm cùng đích, thánh Clara đã luôn tâm niệm: “Tất cả cho Chúa, tất cả vì phần rỗi các linh hồn”. Thánh nữ hằng tâm niệm: “Không có chi không thể, không có chi nặng nề hay khó khăn đối với tình yêu“. Thánh nữ đã sống đời sống thánh thiện và luôn giúp các chị em Hội dòng nên thánh. Thánh Clara làm bề trên tu viện trong bốn mười năm mà trong đó hai mươi chín năm ngài luôn đau yếu. Nhưng lúc nào ngài cũng vui vẻ vì cho rằng đó là sự phục vụ Thiên Chúa. Nhiều người cho rằng các nữ tu đau yếu là vì quá khắc khổ. Ngài nói: “Họ nói chúng tôi quá nghèo khổ, nhưng một tâm hồn có được Thiên Chúa vĩnh cửu thì có thực sự nghèo hay không?

St. Clare

Thánh Nữ Clara, đồng trinh, Đấng sáng lập Dòng Nữ tu Clara ( Dòng Chị Em Hèn Mọn)

Sau một cuộc đời tận tụy, thánh nữ đã về với Chúa trong bình an ngày 11 tháng 8 năm 1253 trước sự thương tiếc của mọi người. Chỉ hai năm sau, ngài được Đức Giáo Hoàng Alexander IV phong thánh.

Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng yêu thương! Chúa đã ban cho chúng con thánh Clara, một mẫu gương sống đời nghèo khó và phục vụ người khác với lòng bác ái khiêm nhường. Xin cho chúng con biết sống theo gương thánh nhân để ngày càng nên giống Chúa Kitô trong đời sống chúng con. Amen.

Pet. Hải Văn SDB

Nguồn: http://loichua.donboscoviet.net/index.php/suy-nie-m-ca-c-nga-y-le/chu-tha-nh/item/351-ng%C3%A0y-11-th%E1%BA%AFng-th%C3%A1nh-n%E1%BB%AF-clara

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

nenchaykonen2

MỪNG LỄ KHẤN VĨNH VIỄN

CỦA QUÝ CHỊ EM HÈN MỌN DÒNG NỮ CLARA – PHAN SINH

TẠI NHA TRANG 11-8-2016

Kính chúc Quý Chị Em vui sống bền vững trong ơn gọi tận hiến cho Chúa Giêsu KiTô!

P. Mai Tự Cường

8.8-MỪNG KÍNH THÁNH ĐA MINH, SÁNG LẬP DÒNG THUYẾT GIẢNG ĐA MINH

 

 

Da minh1

WwW.ThanhCaVietNam.OrG/

Thánh Đa Minh sinh ngày 24-6-1170 tại Caleruega thuộc giáo phận Osma, miền Castille, nước Tây Ban Nha. Thân phụ ngài là bá tước Felix de Guzman, thân mẫu là chân phước Gioanna de Aza. Theo như kể lại thì khi đang mang thai Đaminh, mẹ ngài đã mơ thấy mình cho chào đời một con chó ngậm bó đuốc đang cháy sáng và mang lửa đến khắp thế giới. Rồi trong ngày thánh nhân rửa tội, mẹ đỡ đầu trông thấy trên trán chú bé một ngôi sao sáng, chiếu tỏa chung quanh. Do đó tại sao ngày nay khi tạc tượng thánh Đa Minh, người ta cũng tạc luôn tượng con chó đang ngậm đuốc sáng nằm dưới chân, còn trên trán ngài thì có ngôi sao sáng.

Vào năm Đaminh được 7 tuổi, cha mẹ ngài gửi ngài đến ở với cậu là linh mục đang coi xứ gần Caleruega. Năm 14 tuổi ngài lên học tại Palencia, là trường học nổi tiếng nhất tại Tây Ban Nha lúc bấy giờ. Tuy phải sống giữa sự xa hoa và đua đòi của các sinh viên, nhưng Đaminh luôn sống nghiêm chỉnh trong ý hướng và nghiêm nghị trong tư cách, thật là một con người xứng đáng cho những trách vụ trong tương lai. Nhưng đồng thời Đaminh cũng đã biết dung hòa việc học hành với đời cầu nguyện và các bổn phận tông đồ. Có những lần ngài đã bán các sách học để giúp đỡ người nghèo ở Palencia. Hai lần ngài đã muốn bán mình làm nô lệ để có tiền giải phóng những người mà quân Moor bắt làm nô lệ.

Hết trung học, ngài xin đi tu và có lẽ được truyền chức vào năm 1194. Sau đó, cha Đaminh xin làm kinh sĩ tại nhà thờ chính toà Osma. Với lòng đạo đức và khôn ngoan, cha Đaminh trở nên rường cột cho hội kinh sĩ ở đây. Vì vậy, chỉ 2 năm sau, cha được chỉ định làm bề trên hội kinh sĩ. Đây là một vinh dự lớn lao cho một linh mục trẻ. Kinh sĩ Đaminh thường mang trên tay sách phúc âm theo thánh Matthêu, các thư của thánh Phaolô và sách các giáo phụ.

Vào năm 1203, ngài cùng đi với Đức giám mục giáo phận là Đức cha Diego để thu xếp cuộc hôn nhân của hoàng tử xứ Marches và công chúa Đan mạch. Trên đường đi Đan mạch, hai ngài phải băng qua miền Nam nước Pháp. Đi qua Toulouse để thi hành sứ mệnh này, cả hai vị đều kinh ngạc và buồn sầu vì những tàn phá mà bè rối Albigenisê gây nên.  Trước cảnh này Đaminh nảy sinh ý tưởng thành lập một dòng tu nhằm chiến đấu chống lại tà thuyết và đem ánh sáng Tin Mừng đến tận cùng trái đất.

Chuyến đi của Đức giám mục và cha Đaminh được thành công tốt đẹp. Hai vị trở về báo tin cho nhà vua và chuẩn bị hôn lễ. Nhà vua lại cử Đức giám mục và cha Đaminh lên đường đón công chúa cho hoàng tử của mình,  nhưng khi hai vị đến hoàng cung thì nghe tin công chúa mới lìa đời. Sau đó hai vị cùng sang thăm Rôma. Nhận thấy có nhiều người lạc giáo, nên khi triều kiến Đức Giáo Hoàng, Đức cha Diego xin từ nhiệm giám mục để có thêm thời giờ chuyên lo truyền giáo. Tấm gương sáng càng khiến Đaminh hăng hái hơn trong việc rao truyền Tin Mừng. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng Innocent III không đồng ý. Ngược lại ngài ủy thác hai vị sang miền Languedoc, hợp lực cùng với các tu sĩ Xitô chống lại nhóm Albigenisê. Ngay khi nhận nhiệm vụ mới này, Đức cha Diego ra lệnh cho các tu sĩ Xitô phải sống đời khó nghèo. Và kết quả trông thấy thực rõ rệt. Từ đó, số người xin trở lại Công giáo tăng lên rất nhanh. Riêng Đaminh thì còn dành nhiều thời giờ để tranh luận với nhóm lạc giáo. Không cãi nổi với nền thần học chắc chắn, cùng với sự thông thái và lý luận sâu sắc của cha Đaminh, những người lạc giáo đe dọa giết ngài. Không sợ hãi trước những lời đe dọa đó, ngài vẫn tiếp tục rao giảng Tin Mừng cách can đảm. Ngài chọn Prouille làm trụ sở chính rồi từ đó đi đến các miền Fanjeaux, Montpellier, Servian, Beziers, và Carcassonne. Chính tại Prouille vào năm 1206 mà thánh nhân đã lập hội dòng nữ Đa Minh đầu tiên. Ngài biết có nhiều phụ nữ nhiệt thành nhưng vì lầm lạc đã theo nhóm Albigenisê. Sau khi trở lại, các phụ nữ này đã xây nhà dòng và chuyên giáo dục các trẻ Công giáo. Đây là cơ sở đầu tiên của Dòng Hai Đa Minh trên thế giới.

Da minh2

Năm 1208 mở ra một thời kỳ mới cho vị sáng lập dòng Đaminh. Vào ngày 15 tháng 1 năm 1208 cha Pierre de Castelnau, vị sứ thần của Giáo Hoàng bị nhóm Albigenisê ám sát. Vì thế Đức Giáo Hoàng Innôxentê III đã phát động cuộc thập tự chinh do Bá tước Simon de Montfort dẫn đầu nhằm chống lại nhóm Albigenisê. Riêng Đaminh thì thương xót những người lạc giáo hơn là ghét bỏ họ. Ngài cũng quyết định mở cuộc thánh chiến nhưng không trên mặt trận võ khí mà trên mặt trận truyền giáo. Chính ngài đã gặp Bá tước Simon và hai người trở thành bạn thân đến mãn đời.

Vào năm 1214 Bá tước Simon Monfort tặng cho cha Đaminh một lâu đài ở Casseneuil, và tại đó ngài đã thành lập Dòng Giảng Thuyết cùng với sáu môn đệ, nhằm lo cho việc hoán cải người lạc giáo Albigenisê.

Trong Công đồng Latêranô lần thứ tư năm 1215, thánh Đaminh thất bại trong việc xin phê chuẩn tu hội, vì các đức giám mục tự coi mình có trách nhiệm chính trong việc rao giảng Tin Mừng và hoán cải những người theo tà thuyết. Tuy nhiên, vào năm sau đó, ngài được Đức Giáo Hoàng Honorius III chuẩn y và Dòng Thuyết Giảng được chính thức thành lập.

Tuy nhiên, khát khao truyền giáo vẫn cháy bỏng nơi tâm hồn ngài, vì thế cuối năm 1218, ngài chỉ định cha Reginal de Orleans làm tổng đại diện, còn mình thì cùng với nhiều anh em đi sang các thành phố khác để rao giảng. Các tu viện đầu tiên của dòng được thành lập tại Bologna, Prouille, Toulouse, Fanjeaux, sau đó tới Lyons, Segovia, Limoges, Barcelona và nhiều thành phố bên Ý… Cũng trong năm đó, Đức Giáo Hoàng Honoriô đã ban cho ngài tước hiệu “Bề trên tổng quyền” hoặc bề trên cả, là danh xưng mà các vị thừa kế giữ cho đến nay. Năm 1219, nhân đại hội dòng lần đầu ở Bologna, Cha Đaminh từ chức bề trên tổng quyền để có nhiều thời giờ đi truyền giáo. Tất nhiên là đơn xin của ngài đã bị từ chối. Tuy nhiên, không gì có thể cản trở ngài trong việc truyền giáo, nên ngài đã cùng với các anh em trong dòng tiếp tục truyền giáo và đem nhiều người trở lại cùng Chúa. Trước những thành công liên tục, vào năm 1220, ngài một lần nữa phải triệu tập công đồng chung toàn dòng lần thứ 2 tại Bologna. Sau đó ngài đi thăm đức hồng y Ugolino, một ân nhân của dòng. Trên đường trở về lại Bologna, ngài bị lâm bệnh, và sau ba tuần chịu đựng cách can đảm, thánh nhân qua đời giữa các anh em trong dòng. Vào ngày 13 tháng 7 năm 1234 tức mười ba năm sau, Đức Giáo Hoàng Gregoriô IX, tuyên phong ngài lên bậc hiển thánh.

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội thánh Đaminh, một con người yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân. Ngài đã dùng những khả năng mà Chúa ban cho để giúp đỡ và đem nhiều người đang đi trên đường sai lạc trở về cùng Chúa.

Xin cho mỗi người chúng con cũng biết sống chứng nhân cho Chúa qua đời sống thánh thiện của mình và can đảm rao truyền lời Chúa đến cho mọi người, cũng như giúp đỡ những người lạc bước được trở về cùng Chúa. Amen.

Phêrô Dương Hải Văn SDB

Nguồn: http://loichua.donboscoviet.net/index.php/suy-nie-m-ca-c-nga-y-le/chu-tha-nh/item/343-ng%C3%A0y-8-th%C3%A1ng-8-th%C3%A1nh-%C4%91a-minh

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường


8.8 – Mừng Lễ kính Thánh Đa Minh, Đấng sáng lập và Bổn Mạng Dòng Thuyết Giảng Đa Minh, Bổn mạng Quý Cha Đa Minh Trương Bảo Tâm, Cha Đa Minh Trần Văn Vũ, Cha Đa Minh Nguyễn Tiến Trung,Cha Đa Minh Nguyễn Xuân Hùng, Cha Đa Minh Phạm Mạnh Niệm, CSsR, Cha Đa Minh Trần Thật, CSsR, Cha Đa Minh Đinh Quang Vinh thuộc Giáo Phận Kon Tum!

Nguyện xin Chúa, qua lời bầu cử của thánh Bổn mạng Đa Minh, ban nhiều ơn thánh và sức khỏe giúp Quý Cha luôn hoàn thành Thánh Ý Chúa trong sứ vụ linh mục mà Chúa đã trao phó cho Quý Cha để cứu rỗi nhiều linh hồn về với Chúa!

0013

8-8-2016!

Kỷ niệm tròn 3 năm được Chúa ban ơn chữa lành bệnh tai biến, để được tiếp tục phục vụ Chúa!

TẠ ƠN CHÚA VÀ ĐỨC MẸ!

CÁM ƠN TẤT CẢ QUÝ VỊ CÙNG BẠN HỮU ĐÃ THƯƠNG RỘNG TAY CỨU GIÚP VÀ NÂNG ĐỠ TÔI VƯỢT QUA NHIỀU THỬ THÁCH CAM GO VÀ BỆNH TẬT TRONG SUỐT THỜI GIAN QUA! NGUYỆN XIN CHÚA TRẢ CÔNG BỘI HẬU CHO TẤT CẢ QUÝ VỊ!

ba_ngon_nen_500

P. Mai Tự Cường

6.8 – LỄ CHÚA HIỂN DUNG

Chua hien dung

Chúa hiển dung trên đỉnh núi Taborê

Cả ba Phúc Âm nhất lãm đều đề cập đến biến cố biến đổi hình dạng của Chúa Giêsu tại núi Tabor. Với một sự tương đồng đáng chú ý, cả ba đều kể lại biến cố này sau khi ông Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, và sau lần đầu tiên Đức Giêsu nói về sự thống khổ và cái chết của Ngài.

Đức Giêsu đem ông Phêrô, Giacôbê và Gioan cùng đi với ngài lên trên một núi cao, tại đó Ngài biến đổi dung nhan trước sự ngỡ ngàng của các ông. Sự chiếu sáng rạng ngời của Ngài phát xuất từ thần tính của Ngài. Bằng việc tỏ hiện vinh quang của mình, Ngài nhằm củng cố lòng tin của cả ba môn đệ đi theo Ngài và chuẩn bị cho họ đối diện với những thử thách sắp tới, bằng cách ban cho họ nếm hưởng trước vinh quang và niềm vui thần linh qua những đau khổ trong đời sống của người môn đệ.

Sự hăng hái của Phêrô trong việc dựng lều nơi Chúa hiển dung đưa ra giả sử rằng, biến cố đó xảy ra trong dịp lễ lều kéo dài một tuần lễ trong mùa thu.

142

Mặc dù cả ba văn bản đều rất giống nhau, theo các học giả Kinh Thánh, thật khó để diễn lại cảm nghiệm của các tông đồ. Chắc chắn là Phêrô, Giacôbê và Gioan đã thoáng nhìn thấy được thiên tính của Đức Giêsu, nhưng ấn tượng ấy đủ mạnh để tạo nên sự sợ hãi in sâu trong tâm hồn họ. một cảm nghiệm như vậy không thể nào diễn tả được, do đó các ngài dùng cách diễn đạt thông thường trong kinh sách để diễn tả. Tuy nhiên, Đức Giêsu cũng đã cảnh báo họ về sự vinh hiển và sự thống khổ của Ngài liên hệ mật thiết với nhau một cách chặt chẽ.

Ngay từ thời các tông đồ, truyền thống đã coi núi Tabor là nơi Chúa hiển dung. Chính vì thế, trong thế kỷ thứ 4 một nhà thờ đã được dựng nên ở núi Tabor. Vào ngày 22 tháng 7 năm 1456, thập tự quân đánh bại quân Thổ Nhĩ Kỳ ở Belgrade. Tin tức về cuộc chiến thắng được đưa về Rôma vào ngày 06 tháng 8, và năm sau, Đức Giáo Hoàng Callistus III đã đưa ngày lễ này vào niên lịch phụng vụ của Rôma.

Lạy Chúa Giêsu, qua ánh sáng của sự hiển dung, Chúa đã tỏ lộ vinh quang của mình cho các tông đồ nhằm củng cố đức tin cho các ngài. Xin cho chúng con luôn biến tin tưởng và tín thác vào tình yêu của Chúa trong mỗi biến cố vui buồn của cuộc sống chúng con, và xin cho chúng con cũng biết “hiển dung” đời sống của mình cho những người sống chung quanh chúng con. Amen.

Phêrô Dương Hải Văn SDB

http://www.loichua.donboscoviet.net/index.php/suy-nie-m-ca-c-nga-y-le/thien-chu-a/item/340-ng%C3%A0y-6-th%C3%A1ng-8-l%E1%BB%85-hi%E1%BB%83n-dung

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

30 câu nói về Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa cộng sản và Chủ nghĩa tư bản.

image

Chủ nghĩa xã hội tìm kiếm sự công bằng trong trạng thái gò bó và nô lệ – Alexis de Tocqueville.

 1. “Khi bạn thấy một người mập đứng kế một người ốm, không có nghĩa là người mập lấy bớt phần ăn của người ốm. Nhưng đây lại là cách suy nghĩ của Chủ nghĩa xã hội.” – Khuyết danh.

image

2. “Chủ nghĩa tư bản không chia đều sự thịnh vượng, nhưng Chủ nghĩa xã hội lại chia đều sự nghèo khổ.” – Winston Churchill.

3. “Ở xứ Tư bản, mọi người đều giàu nghèo một cách bất công, nhưng ở xứ Chủ nghĩa xã hội mọi người đều nghèo một cách công bằng.” – Khuyết danh.

 image

4. “Chủ nghĩa xã hội nói chung đã thất bại rõ tới độ: chỉ những nhà trí thức mới có thể không nhìn thấy.” – Thomas Sowell.

 image

5. “Dân chủ và Chủ nghĩa xã hội chỉ có chung một quan điểm, sự công bằng. Nhưng hãy nhìn về sự khác biệt: Dân chủ tìm sự công bằng trong tự do, Chủ nghĩa xã hội tìm sự công bằng trong sự gò bó và nô lệ.” – Alexis de Tocqueville.

 image

6. “Vấn đề với Chủ nghĩa xã hội là tới lúc nào đó nó sẽ dùng hết tiền của người khác.” – Margaret Thatcher.

image

7. “Chủ nghĩa xã hội là một hệ tư tưởng của sự thất bại, là tiếng kêu của sự ngu dốt, là lời truyền giáo của sự ghen tị, ưu điểm của nó là: chia sẻ đồng đều sự nghèo khổ.” – Winston Churchill.

image

8. “Làm thế nào để bạn biết người đó là một người Cộng sản? Đó là những người đọc Marx và Lenin. Và làm thế nào để bạn biết được người đó là người chống Cộng sản? Đó là những người hiểu Marx và Lenin.” – Ronald W. Reagan.

image

9. “Chủ nghĩa cộng sản không thành công được, vì mọi người ai cũng muốn quyền tư hữu.” – Frank Zappa.

image

10. “Chủ nghĩa Phát xít là giai đoạn nhân loại sẽ tìm đến, sau khi họ thấy Chủ nghĩa cộng sản chỉ là ảo tưởng.” – Friedrich A. von Hayek.

 image

11. “Chủ nghĩa cộng sản là điều đúng cuối cùng, khi nhân loại không còn tồn tại.” –Fulton J. Sheen.

image

12. “Kiểm soát của cải là kiểm soát sự sống.” – Hilaire Belloc.

 image

13. “Nếu bạn để chính phủ điều hành sa mạc Sahara, trong 5 năm chúng ta sẽ thiếu cát.” – Milton Friedman.

 image

14. “Cái nhìn của chính phủ về kinh tế có thể nói ngắn gọn như sau: nếu nó di chuyển, hãy đánh thuế. Nếu nó tiếp tục di chuyển, hãy ra luật để điều khiển nó. Và nếu nó ngừng lại, hãy hỗ trợ nó.” – Ronald Reagan

15. “11 chữ đáng sợ nhất trong tiếng Anh là: ‘Tôi là người của chính phủ và tôi sẽ giúp bạn !.” – Ronald Reagan.

 image

16. “Những ai muốn lấy trộm của Peter để đưa cho Paul luôn có sự ủng hộ ở Paul.” – George Bernard Shaw.

image

17. “Dân chủ sẽ ngưng tồn tại khi bạn lấy đi của cải của những ai muốn đi làm để chia bớt cho những ai không muốn đi làm !.” – Thomas Jefferson.

18. “Tôi có một câu hỏi cho các nhà Lãnh đạo ở các nước Chủ nghĩa cộng sản: nếu Chủ nghĩa cộng sản có tương lai, tại sao mấy ông cần phải xây dựng những bức tường để giữ mọi người lại, và quân lực cùng cảnh sát chìm để giữ mọi người im lặng?” – Ronald Reagan.

19. “Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thành công ở 2 nơi: Thiên đường, nơi mà không cần nó; và Địa ngục, nơi mà đã có nó.” – Ronald Reagan.

20. “Một chính phủ có thể cho bạn những gì bạn muốn, cũng là một chính phủ có thể lấy đi những gì bạn có !.” – Thomas Jefferson.

image

21. “Nền kinh tế của Chủ nghĩa xã hội không thể hoạt động được, vì nó không có những thứ mà nền kinh tế tư bản không thể không có, đó là: giá cả thị trường để phân phối tài nguyên, tự do và chất xám của con người, quyền sở hữu để các doanh nhân yên tâm làm việc, và lòng tham để con người không ngừng tham vọng.” – Ludwig von Mises.

image

22. “Nền kinh tế Chủ nghĩa xã hội hoạt động dựa trên tư tưởng rằng: sự hiểu biết của một nhóm người cao rộng hơn sự hiểu biết của hàng trăm triệu người. Đây là một suy nghĩ kiêu ngạo !.” – FA Hayek.

23. “Chủ nghĩa cộng sản và Chủ nghĩa xã hội đã giết nhiều người hơn tất cả những cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 cộng lại.” – Khuyết danh.

image

24. “Chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại nếu không có tự do, trong khi Chủ nghĩa xã hội không thể nào tồn tại nếu cho phép tự do.” – Milton Friedman.

25. “Vũ khí đã giết người nhiều nhất trong lịch sử nhân loại là Chủ nghĩa cộng sản và Chủ nghĩa xã hội.” – Khuyết danh

26. “Nếu muốn thấy sự khác biệt giữa Chủ nghĩa tư bản và cộng sản, hãy so sánh giữa Bắc và Nam Hàn.” – Khuyết danh.

 27. “Hãy nhìn bao nhiêu người từ xứ cộng sản bất chấp cái chết để vượt biên qua xứ tư bản, nhiêu đó cũng cho chúng ta nhân loại đã bình chọn ra sao.” – Milton Friedman.

image

28. “Đảng Cộng Sản Việt Nam đã hy sinh hơn 2 triệu người dân Việt Nam để thành lập Chế độ cộng sản. Nhưng cuối cùng họ lại dùng Chủ nghĩa tư bản để làm giàu. Vậy 2 triệu người Việt Nam đã chết để làm gì?” – Dennis Prager.

29. “Chủ nghĩa tư bản không hoàn hảo, nhưng nó là hệ thống tuyệt vời nhất trong lịch sử nhân loại.” – Milton Friedman.

image

30. “Phải mất một thời gian tôi mới nhận ra được rằng Chủ nghĩa xã hội không hơn gì một giấc mơ đẹp; rằng tự do quan trọng hơn bình đẳng; rằng nỗ lực đạt được bình đẳng sẽ làm nguy hại tới tự do; và rằng, nếu tự do bị mất, bình đẳng thậm chí là cũng sẽ không còn cho những kẻ mất tự do.” ― Karl Popper.

Ku Búa dịch.
On Monday, July 18, 2016 6:25 PM, Tony Pham <thpham75@yahoo.com>
From: TRONG VO drvo14@sbcglobal.net

Thánh Gioan Maria Vianney và Tòa Giải Tội – Bài của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An & Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

John Vianney

Thánh Gioan Maria Vianney, linh mục – Lễ kính 04-8

Có thể nói rằng: phép lạ vĩ đại của cha Thánh Gioan Maria Vianney là tòa giải tội, nơi tội nhân được ơn hoán cải. Mỗi ngày, ngài ngồi giải tội từ 11 giờ đến 12 giờ vào mùa Đông, và thậm chí là 16 đến 18 giờ vào mùa Hè. Khi hành hương đến xứ Ars, trước tiên tôi tìm đến tòa giải tội nơi thánh nhân ngồi mấy mươi năm, quỳ gối cầu nguyện và xin ngài chúc lành cho sứ vụ hòa giải trong đời linh mục của mình.

Công việc mục vụ ngồi tòa, giải tội là sứ vụ đức ái mục tử đẹp nhất trong cuộc đời của cha thánh, là hoạt động sáng chói nhất trong nhiệm vụ của một mục tử.

Toa Giai Toi cua Thanh G.M. Vianney

Tòa Giải Tội của Thánh Gioan Maria Vianney, Linh mục

Thời trẻ, Gioan có một tâm nguyện: “Nếu một ngày nào đó tôi được làm Linh mục, tôi sẽ đưa nhiều linh hồn về cho Chúa”. Khi làm Linh mục, ngài đã thực hiện tâm nguyện ấy. Tòa giải tội là nơi ngài đưa các linh hồn về cho Chúa nhiều nhất. Tòa giải tội đã thu hút biết bao hối nhân tìm đến với xứ Ars. Tòa giải tội là phép lạ lớn nhất trong cuộc đời của thánh nhân. Đức Giáo Hoàng Piô XII viết về cha thánh Gioan Maria Vianney một câu thật ngắn gọn: “Một chuyên viên thành thạo nhất về các tội nhân”.

1.Thời gian ở tòa giải tội.

Một phần lớn cuộc đời Linh mục của cha Vianney trôi qua trong tòa giải tội. Trong 30 năm dài, một làn sóng người hành hương không ngừng đổ về ngôi nhà thờ cũ kỷ của họ Ars. Mùa đông rét buốt, số người đến đây không ít hơn các mùa ấm áp.

Tứ tháng 11 đến tháng 3, cha sở phải ngồi tòa trung bình không dưới 12-13 giờ mỗi ngày. Người ta đứng thành hàng dài, từ trong nhà thờ ra bên ngoài, nối đuôi nhau không ngớt chờ đợi tới phiên mình.

Trong năm 1845, có ngày số người hành hương đến Ars lên tới ba hay bốn trăm. Tại nhà ga lớn nhất của Lyon, người ta mở một văn phòng hoạt động 24/24 để bán vé tàu cho khách đi Ars, vé có giá trị tám ngày, đó là thời gian trung bình người ta phải đợi cho đến phiên mình vào tòa xưng tội với vị Linh mục thánh thiện nổi tiếng.

Vào mười năm cuối đời, Thánh Vianney phải giải tội từ mười sáu đến mười tám tiếng một ngày! Còn khách hành hương nói chung phải đợi ba mươi, năm mươi, bảy mươi giờ trước khi được lãnh nhận bí tích hòa giải. Cũng có khi người ta mua lại chỗ đứng của người nghèo. Ai muốn đi ra ngoài phải thỏa thuận với người bên cạnh hoặc với người bảo vệ nhà thờ. Đêm thì sao? Khi cửa nhà thờ đóng lại, người ta đánh số chổ của mình. (x.Linh mục, người loan báo Tin Mừng, Lm Nguyễn Hồng Giáo, OFM).

2.Ai đến với tòa giải tội?

Họ gồm đủ mọi thành phần và lứa tuổi: có giáo dân, tu sĩ, linh mục và đôi khi cả giám mục nữa; họ là quý tộc và bình dân, kẻ vô chủ nghĩa và người học thức, người thành thị và người thôn quê,… Có khi nguyên một gia đình ngồi trên xe ngựa đến từ những tỉnh xa xôi. Từ những vùng lân cận, người ta tuôn về đây bằng đôi chân hay bằng xe, theo đường bộ hay đường thủy. Năm cuối cùng của cuộc đời cha Vianney (1858-1859), số khách hành hương lên tới tám mươi ngàn, chỉ tính riêng số người dùng các phương tiện chuyên chở công cộng; còn tính chung có lẽ là khoảng một trăm ngàn đến một trăm hai mươi ngàn.

Đám đông này rất trật tự và nghiêm trang. Họ đến là để nhìn một vị thánh, để xưng tội, để cầu nguyện hay để hoàn thành một lời khấn với thánh nữ Philomêna. Có những người vào làng Ars như vào một đền thánh; vừa nhìn thấy tháp chuông nhà thờ, họ liền cất nón mũ xuống và làm dấu thánh giá. Một nhân chứng kể lại quang cảnh họ nhìn thấy vào tháng ba năm 1859: đông đảo những người ngoài họ Ars đứng trong nghĩa trang cũ và đến tận trong những con đường nhỏ kế cận chờ đến phiên vào tòa giải tội.

Buổi sáng vào khoảng chín giờ, Cha Vianney dành một số thời gian cho các tu sĩ và linh mục. Ngài giải tội cho họ ở một tòa đặt sau bàn thờ chính. Có lần Đức Giám mục địa phận nhà cũng ngồi chờ phiên mình. Cha giải tội cũng dành một số ngoại lệ cho giáo dân con chiên cha, người bệnh, người tàn tật và những hối nhân không thể chờ đợi. Đối với trường hợp cuối cùng này, ngài thường dùng ơn “nhìn thấy trong tâm hồn” để nhận ra từ trong dòng người chờ đợi, rồi ưu tiên cho họ.(sđd, trang 62-63).

3.Cha Vianney khuyên bảo các hối nhân như thế nào?

Nói chung, ngài mạnh mẽ thẳng thắn, nhân từ nhưng không yếu đuối. Ngài biết cần phải “đánh” điểm nào cho trúng đích. Đọc một số lời khuyên còn ghi lại, tôi thấy ngài thường ngắn gọn, đầy tâm tình chứ không máy móc lạnh lùng.

Để lay tỉnh những “đại tội nhân”, khá nhiều khi ngài tung ra một câu đanh thép: “này con, con bị luận phạt đời đời”. Phát ra từ môi miệng một vị thánh mà người ta tin là ngài đọc được tương lai, câu đó giống như một lời phán quyết khủng khiếp. Nhưng thật ra ngài chỉ muốn nói: “nếu con không xa lánh dịp tội ấy, nếu con cứ duy trì cái thói quen tội lỗi ấy, nếu con không nghe theo lời khuyên dạy thì con sẽ bị luận phạt”.

Đối với những người đạo đức, ngài không cần nhiều lời. Nhưng ngay cả với trường hợp này, vẫn là những mũi tên nóng bỏng đâm thấu tận con tim: “xin Đức Cha yêu thương các Linh mục của ngài!”. Đó là lời duy nhất ngài nói với Đức cha De Langalerie, Giám mục địa phận Belly đang quỳ gối trước mặt ngài. Một cộng sự viên gần gũi của ngài xưng thú: “con đã lười biếng làm điều này nhưng tận đáy lòng, con vẫn thiện chí”, cha giải tội đáp lại duy nhất một câu “Ồ! thiện chí, thiện chí … hỏa ngục cũng lót toàn thiện chí”. Linh mục Monnin kể: “tôi đã xưng tội với ngài hai lần. Lần nào cũng thế, sau mỗi tội tôi xưng ra dù là tội nhẹ nhất, ngài đều nói: ‘đáng tiếc quá’. Từ một người khác, đó có thể là một cách nói thông thường, nhưng từ môi miệng của Cha Sở họ Ars, Linh mục Monnin coi như là tiếng kêu của lòng tin, lòng thương xót và sự ghê tởm đối với tội lỗi; ngài thêm: “Nhất là giọng nói đầy âu yếm đã đánh động tôi” (sđd, trang 64).

4.Cha Vianney yêu thương tội nhân.

Cha Vianney ghê tởm tội lỗi bao nhiêu thì yêu mến người tội lỗi bấy nhiêu. Ngài có một lòng cảm thương vô bờ đối với hối nhân. Tình yêu ấy được biểu lộ qua những nhân đức sau đây.

a.Cầu nguyện cho tội nhân.

Xen lẫn với kinh nguyện hằng ngày, ngài thường khóc lóc mà thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa không muốn kẻ có tội phải chết… Những người có tội thật đáng thương. Ước gì con có thể thú tội thay cho họ”. Một người thân tín nói với ngài: “Cha cầu nguyện cho họ ít đi một tí được không? Thấy cha vất vả đau khổ quá!. Ngài trả lời: “Biết sao được. Cha đã hứa cầu nguyện cho họ, cha không thể bỏ…”. Lần khác ngài tâm sự: “Tôi chỉ thực sự là tôi khi tôi cầu nguyện cho những người tội lỗi”.

b.Đền tội thay cho họ.

Ngài ăn chay hãm mình để đền bù tội lỗi và mong cho tội nhân hối cải.Trong những năm cuối đời, ngài thường ra việc đền tội nhẹ cho hối nhân. Ngài nói: “Tôi ra việc đền tội nhẹ cho họ, phần đền tội còn lại, tôi sẽ làm thay”. Và ngài làm thay bằng chính sự khổ chế của mình. Tất nhiên, không phải lúc nào cũng vậy. Đối với những lỗi nặng mà cứ tái phạm mãi, ngài bắt hối nhân phải làm những việc đền tội nặng, để họ chứng tỏ sự chân thành và quyết tâm sửa đổi, hầu đem lại lợi ích cho chính họ. Cha Vianney nhiều khi còn khóc trong tòa giải tội nữa. Ngài khóc vì người ta xúc phạm tới Chúa, ngài cũng khóc vì thương các linh hồn… Chính sự thánh thiện của ngài mang lại cho lời khuyên răn và nước mắt của ngài có sức mạnh và hiệu lực. Có người hỏi: “sao cha khóc thế?” ngài đáp ngắn gọn: “tôi khóc vì các ông các bà không khóc cho đủ”.

c.Yêu thương tội nhân

Đối với những tội nhân cứng lòng, ngài tìm hết cách giúp họ thống hối như gặp gỡ, khuyên nhủ, khi nặng khi nhẹ, và ngay cả bằng nước mắt. Nước mắt và Thánh giá, nhờ ngài, có thể làm cho một trái tim chai đá trở thành trái tim thịt mềm. Có người lúc trước đã trả lời thẳng thừng: “Tôi không muốn xưng tội”, hoặc: “Tôi không đến đây để làm cái chuyện đạo đức của mấy bà”. Mặc kệ. Cuối cùng tất cả đều quỳ xuống dưới chân ngài và xưng thú. Chúa đã ban cho ngài một trực giác lạ lùng để nhận ra giữa đám đông hoặc giữa những người đi qua, ai là kẻ cần được đưa về với Chúa nhất để giúp họ, trước sự ngạc nhiên của chính họ. Do đó mà khi có người buột miệng hỏi: “Mỗi năm cha bắt được bao nhiêu cá lớn?”, ngài trả lời ngay, không lưỡng lự: “Hơn 700”. Không nhớ con số sao được đối với những con cá như thế!

d.Luôn nhẫn nại

Mặc dù vất vả ngồi tòa và có những chuyện dễ làm người ta bực mình, nhưng ngài thì không. Ngược lại, ngài tỏ ra đặc biệt nhẫn nại. Đây là một trong những đức tính nổi bật nhất nơi ngài. Một linh mục đã nhận xét : Tôi đã từng quan sát kỹ xem ngài có tỏ ra bất nhẫn bực tức lúc nào không, mà không thấy. Đem chuyện này hỏi ngài thì được ngài trả lời: “Phải nhẫn nại mới có thể cho cái người ta cần chứ ! Bất nhẫn thì được cái gì ?” Ngài cũng nói với một cha bạn: “Hãy học tập sự nhẫn nại của Chúa”.

đ.Hiền hòa, kính trọng hối nhân.

Vào thời kỳ cao điểm, bình quân mỗi ngày có từ 300 đến 400 người xếp hàng xưng tội. Công việc vất vả và liên tục trong 30 năm này đã làm cho ngài kiệt lực, đến nỗi có lần ngài tự thú: “Khi tôi rời tòa giải tội, tôi phải lấy tay sờ vào đùi xem nó có còn ở đấy không. Đôi khi ra khỏi nhà thờ, tôi phải vịn vào tường mà đi cho khỏi ngã. Đầu tôi nặng trĩu. Thực sự tôi đã không biết mình chống lại như thế nào”.

Suốt ngày bị công việc mục vụ dồn ép như thế, ngồi nghe hối nhân hàng giờ như thế mà ngài vẫn không mất kiên nhẫn, không la lối nạt nộ ai bao giờ, thật là lạ lùng.

Ngài luôn hiền hòa, tế nhị, kính trọng đối với hối nhân, bất kể là ai. Có Linh mục sa ngã nặng đến xưng tội vẫn được ngài yêu mến, kính trọng. Lời khuyên dành cho Đức Giám Mục Giáo Phận đến xưng tội với ngài là : xin Đức cha hãy yêu thương các Linh mục của Đức cha.

Dù có đông người xếp hàng bên tòa giải tội, ngài vẫn dành cho mỗi người một thời gian cần thiết, bởi người nào cũng có vấn đề riêng của mình. Ngài không khuyên dài, nhiều khi chỉ một lời thôi, nhưng là lời làm cho hối nhân phải động tâm suy nghĩ, một lời tác động mạnh trên họ có khi cả đời. Chính sự thánh thiện và yêu thương đem lại sức mạnh và hiệu năng cho lời đó. (x. Thánh Gioan Maria Vianney, bổn mạng các Linh mục, Lm Micae Trần Đình Quảng; simonhoadalat.com).

5.Theo gương cha thánh, Linh mục cử hành Bí Tích Hòa Giải

Giải tội là một tác vụ khó khăn nhất, đòi hỏi nhất, nhưng đó là một tác vụ cao đẹp nhất, an ủi nhất của Linh mục trong đời mục vụ. (x.Chân dung Linh mục trang 39, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống).

Là tác vụ khó khăn nhất bởi lẽ, ngồi tòa giải tội giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Với một tư thế không đổi là lắng nghe, phân định, khuyên nhủ, ban phép giải tội. Nghe đi nghe lại đủ thứ tội luỵ trần gian. Linh mục Nguyễn Tầm Thường đã dùng hình ảnh “cái bô rác” để nói về lỗ tai các Linh mục, chứa đựng mọi rác rưới tội lỗi hồng trần, nhưng Linh mục không để mình bị lây nhiễm rác rưới.Trí óc luôn làm việc căng thẳng. Một tư thế ngồi, tay cầm tràng hạt, tay chống trán, đầu tựa vào tòa nghe chăm chú. Có khi cơ thể mệt mỏi ê ẩm mà không được nghỉ ngơi.

Là tác vụ đòi hỏi nhất bởi lẽ, trước khi ngồi tòa, Linh mục đã phải chuẩn bị bằng cách trang bị kiến thức tương hợp; trong khi giải tội, linh mục phải vận dụng khôn ngoan để phân định, cương nghị để khuyên can, nhân từ để xá giải; sau khi đã ra khỏi tòa hòa giải, Linh mục phải trung tín với ấn tòa giải tội. Nếu điều Linh mục phải nhớ trong ngày là sách nguyện, thì điều Linh mục phải quên chính là tội người ta xưng.

Là một tác vụ cao đẹp nhất và an ủi nhất bởi lẽ, qua trung gian Linh mục, hối nhân gặp được trái tim đầy thương xót của Thiên Chúa. Và đó là hạnh phúc. Người ta bảo trên đời có ba bóng dáng hạnh phúc tinh ròng: mẹ đem con đi rửa tội về, người lành tạ thế và hối nhân từ tòa giải tội bước ra.

Nếu như hạnh phúc của người truyền giáo là có một người được rửa tội thì hạnh phúc của Linh mục giải tội là có một tội nhân được giao hòa với Chúa, được tìm lại ơn thứ tha và nguồn bình an, niềm vui tâm hồn. Hối nhân càng nhiều tội lỗi, càng lâu năm xa cách nguội lạnh mà được ơn trở lại thì Linh mục càng dâng đầy hạnh phúc. Có những hối nhân đã khóc nức nở khi sám hối về tội lỗi của mình và nhận ra lòng thương xót của Chúa. Họ quỳ đó, khóc chân thành với những dòng lệ ăn năn. Nước mắt hạnh phúc của người con trở về với Cha nhân từ. Những nỗi đau thể xác, tâm hồn được bộc bạch. Có những người mẹ, người vợ thổ lộ tâm sự của gia đình, tâm tư không thể nói cùng ai chỉ trừ Cha giải tội. Thanh niên nam nữ với những thao thức tuổi trẻ xin linh hướng. Thiếu nhi đón nhận lời thăm hỏi khuyên bảo.

Có nhiều tâm hồn trong sáng, thánh thiện đến tòa giải tội đã làm gia tăng lòng đạo đức của linh mục.

Thi hành tác vụ cao đẹp ấy, Linh mục là người diễn dịch lòng yêu thương nhân từ của Thiên Chúa (Thư Thứ Năm Tuần Thánh 2002, số 3).

Để có thể thi hành tác vụ của lòng thương một cách hữu hiệu, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khuyên Linh mục phải sống khả tín và khả ái.

–          Khả tín: “Thật vậy, dù ơn Chúa ban có thể hoàn tất công trình cứu rỗi qua những thừa tác viên bất xứng, nhưng thường tình Thiên Chúa muốn tỏ ra những việc lạ lùng của Ngài qua những vị sẵn sàng đi theo sự thúc giục và hướng dẫn của Thánh Thần hơn, bằng kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và bằng một đời sống thánh thiện” (PO, 12)

–          Khả ái: “Người ta thường muốn được nhận biết và chăm sóc, vì chính trong tư thế gần gũi này mà họ có thể cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa một cách mạnh mẽ hơn” (Thư TNTT số 9). Linh mục phải làm hết cách để lòng thương xót của Thiên Chúa được sáng lên giữa những cử hành”Nghiêm nhặt quá làm cho dân chúng bị dằn vặt tháo lui. Dễ dãi qúa gây hiểu lầm và ngộ nhận. Đấng giải tội rập theo gương Chúa Chiên lành mà tha tội phải diễn đạt đúng mực thước lòng đã sẵn có và sự tha thứ hầu mang lại an bình và chữa lành” (Thư TNTT số 8).

Nhân ngày lễ kính thánh Gioan Maria Vianney (ngày 4 tháng 8), đọc lại nét tiêu biểu cuộc đời thánh nhân nơi tòa giải tội. Như người ta đã nói: phép lạ lớn nhất của cha Vianney thánh thiện là tòa giải tội của ngài bị bao vây suốt ngày đêm. Cũng có thể nói cách khác: phép lạ tiêu biểu của ngài là sự hoán cải của những người tội lỗi. Các Linh mục noi gương cha thánh thực thi sứ vụ khó khăn và cao đẹp này. Mỗi lần ban ơn xá giải là Linh mục thấy mình được cộng hưởng trên đường nên thánh.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An


Thánh Gioan Vianey,LM xứ Ars,Pháp

Thánh Gioan Maria Vianney, LM, Cha Sở Họ Ars, Pháp

Ngày 04/8: THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY- BỔN MẠNG CÁC CHA XỨ

Chúa chọn một người nào là hoàn toàn tự do theo ý của Ngài. Chúa không theo sự hướng dẫn của con người, Chúa tuyển lựa con người là do ơn huệ của Ngài. Thánh Gioan Maria Vianney được Chúa mời gọi, được Chúa tuyển chọn để trở nên môn đệ trung kiên của Ngài.

THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY TRONG CUỘC SỐNG THẾ TRẦN:

Thánh nhân được sinh ra trong một gia đình nông dân đạo đức, luôn biết kính sợ Thiên Chúa vào năm 1786 tại Dardilly thuộc địa phận Lyon nước Pháp. Vì là Người được Thiên Chúa để ý, nên ngay từ hồi còn thơ ấu, thánh nhân đã sống một đời sống thánh thiện, tuân theo ý Chúa; ngay từ 8 tuổi, đi chăn chiên, chăn cừu, thánh Vianney đã biết làm gương dậy các bạn cùng trang lứa quỳ trước ảnh mẹ Maria lần chuỗi và suy gẫm những sự trên trời. Thánh nhân có lòng chạnh thương người nghèo, lưu tâm và tìm mọi cách, mọi phương thế để giúp đỡ họ. Thánh Vianney luôn kiên tâm, can đảm để vượt thắng vấn đề học hành vì Ngài không được thông minh đặc biệt như nhiều người khác. Ngài rất vất vả trên đường học vấn để tiến tới chức linh mục. Tuy nhiên, thánh Vianney luôn cậy trông, phó thác và cầu nguyện, Ngài phấn đấu, chăm chỉ học thần học. Chúa luôn ghé mắt đoái thương những tâm hồn thành tâm thiện chí và yêu thương những con người quyết tâm theo Chúa. Thánh Vianney đã được lãnh sứ vụ linh mục năm 1815. Ba năm sau vào năm 1818, thánh Vianney được bổ nhiệm làm cha sở họ Ars, một giáo xứ bé nhỏ, ít giáo dân thuộc miền Dombes.

THIÊN CHÚA ĐÃ DÙNG MỘT CON NGƯỜI XEM RA KHÔNG TÀI TRÍ ĐỂ BIẾN ĐỔI GIÁO XỨ, BIẾN ĐỔI THẾ GIỚI:

Thánh nhân nhận một giáo xứ dưới mắt người đời và dưới mắt các bạn hữu linh mục là một sự thua thiệt vì một linh mục chỉ có trong tay hơn trăm con chiên thử hỏi có bõ công gì ? Nhưng Thiên Chúa có cách của Người và đường lối của Người quả thực hoàn toàn khác lạ,hoàn toàn huyền nhiệm. Thánh Vianney luôn chu toàn trách nhiệm chủ chăn của mình Ngài chăm chỉ dậy giáo lý, hướng dẫn giáo dân, siêng năng đọc kinh nguyện gẫm chuyên cần giải tội. Thánh nhân đã được ơn Chúa đặc biệt, Ngài đã biến đổi giáo xứ nhỏ bé của Ngài trở nên điểm sáng chói ngời khắp thế giới, thu hút biết bao nhiêu người từ khắp nơi tới với Ngài nơi tòa cáo giải. Ngài đã ngồi tòa miệt mài từ giờ này qua giờ khác. Thiên hạ khắp nơi tuôn đến với Ngài như xưa dân chúng tấp nập tới với Chúa Giêsu để nghe Người giảng dậy khiến Người không có giờ nghỉ ngơi và cả không còn giờ ăn uống nữa.Thánh nhân đã làm việc không ngơi nghỉ, Ngài đã kiệt sức hơn là vì tuổi già.Thiên Chúa đã chọn những sự tầm thường để phá tan những sự cao sang.

THÁNH NHÂN RA ĐI VỀ VỚI CHÚA VÀ ĐƯỢC CHÚA THƯỞNG CÔNG:

Thánh nhân ra đi về cùng Chúa trong bình an vào ngày 04/8/1859. Chúa thưởng công Ngài bằng vô số những phép lạ sau khi Ngài qua đời. Đức Thánh Cha Piô X nâng Ngài lên bậc chân phước. Đức Giáo Hoàng Piô XII trong dịp năm thánh 1925 phong Ngài lên bậc hiển thánh và đặt Ngài làm bổn mạng các cha xứ.

VÀI SUY NGHĨ VỀ THÁNH VIANNEY:

Thánh Gioan Maria Vianney đã thay đổi một giáo xứ nhỏ bé xem ra không là gì trước mắt thế gian trở nên điểm sáng cho toàn thế giới về sự thánh thiện và đạo đức của Ngài. Nơi tòa giải tội, thánh nhân đã thực thi lòng bác ái tuyệt đỉnh của Ngài, thánh nhân họa lại chính con người thật của Đức Kitô, con người đầy tình thương xót và chạnh lòng tha thứ… Như Chúa Giêsu, Ngài đã cho nhân loại, cho những người đau khổ về phần hồn ăn.Ngài đã miệt mài với sứ vụ, nhân loại sẽ không bao giờ quên được lời của Ngài nói:” Cái chết thật vô cùng tốt đẹp khi người ta đã chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô”. Ơn gọi của thánh Vianney là do Chúa. Tất cả đều do sự chọn lựa nhưng không của Chúa. Tất cả do hồng ân của Chúa. Thánh Vianney đã sống ơn huệ tuyệt vời của Chúa và luôn sẵn sàng thông chia cho mọi người ơn huệ quí báu mà Ngài đã nhận được nơi Chúa.

Saint-John-Mary-Vianney-Statue

CẦU NGUYỆN:

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục Gioan Maria Vianney nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của một người mục tử. Vì lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con hằng noi theo lòng bác ái của Người mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Kitô để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Gioan Maria Vianney ).

Xin thánh Vianney cầu thay nguyện giúp cho chúng con các linh mục quản xứ luôn biết noi gương bắt chước thánh nhân để chúng con siêng năng, chuyên cần giải tội và chăm chỉ ban phát các Bí Tích.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

7671951923b04abbb2

Nguyện xin Thiên Chúa Đấng giàu lòng thương xót, qua lời chuyển cầu của Thánh Bổn mạng Gioan Maria Vianney, ban cho tất cả các linh mục quản xứ một tâm hồn quảng đại, biết luôn hy sinh quên mình, biết sống xứng đáng là hiện thân của Chúa Giêsu Linh mục Tối cao để tận tâm tận lực phục vụ Chúa trên cánh đồng truyền giáo mà Chúa đã tin tưởng trao phó cho các ngài , để các ngài thu hoạch thật nhiều hoa quả tốt tươi cho nước Chúa. A men!

Kon Tum, 03-8-2016

P. Mai Tự Cường