DUC TIN TRONG SANG – CN VII TN B (19-02-2012)

Chúa nhật 7 Thường niên (B)
                                                             19.02.2012

Ngay lúc này đây, chúng ta có thể chưa cần sự chữa lành phần xác nhưng chắc chắn chúng ta cần sự chữa lành tâm linh. Đây là cách áp dụng phép lạ này cho chúng ta. Tội lỗi có thể được xem như một bệnh liệt thiêng liêng ảnh hưởng đến toàn bộ chúng ta. Nó ảnh hưởng đến tâm linh chúng ta, làm suy yếu khả năng yêu thương của chúng ta. Nó ảnh hưởng đến ý chí chúng ta: Chúng ta không thể cương quyết từ bỏ điều xấu và cam kết vĩnh viễn với điều tốt. Nó ảnh hưởng đến tinh thần chúng ta: Chúng ta không thể sống trong tự do, hy vọng và vui mừng…

Đức tin trong sáng

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Người bại liệt chịu nhiều thiệt thòi. Không làm được những việc cần làm. Không đến được những nơi muốn đến. Đức Giêsu làm phép lạ chữa nhiều bệnh. Tin ấy lan tới mọi hang cùng ngõ hẻm thành Ca-phác-na-um. Người bại liệt nghe biết, nhưng ông không làm cách nào đến gặp Đức Giêsu để xin Người chữa lành. Đó là hình ảnh của những tâm hồn bại liệt. Chúa vẫn rộng rãi ban phát ân huệ của Người, nhưng những tâm hồn bại liệt, dù muốn cũng không thể đến lãnh nhận được.

Có tâm hồn bại liệt vì yếu đuối. Tâm hồn yếu đuối bị những đam mê, dục vọng đè bẹp, không sao chỗi dậy được. Đam mê, dục vọng giống như những sợi dây, rất mềm mại nhưng cũng rất chặt chẽ. Tâm hồn bị đam mê, dục vọng trói buộc sẽ trở nên tê liệt, thấy những điều tốt đẹp nhưng ngại ngùng phấn đấu, mất hết ý chí chỗi dậy, vươn lên.

Có tâm hồn bị bại liệt vì do dự. Tâm hồn do dự có nhiều ước muốn tốt đẹp, nhưng cứ mãi băn khoăn suy tính, rồi cơ hội qua đi mà vẫn không làm được điều mong muốn. Truyện ngụ ngôn kể lại: có con ngựa vừa đói vừa khát. Người ta đem đến một máng cỏ và một máng nước. Con ngựa cứ quay sang máng nước rồi lại quay sang máng cỏ, không biết nên ăn hay nên uống trước. Sau cùng nó chết vì đói và vì khát. Ngạn ngữ Pháp có câu: Hỏa ngục được lát bằng những ước muốn tốt. Ước muốn suông mà không làm sẽ chẳng giúp thăng tiến thân phận con người.

Có tâm hồn bị bại liệt vì chai đá. Tâm hồn chai đá hoàn toàn mất hết khả năng ước muốn điều lành, thờ ơ với việc thăng tiến bản thân, dị ứng với những việc đạo đức. Đây là thứ bại liệt đáng sợ nhất.

Người bại liệt trong Tin Mừng đã tìm ra phương thế để đến với Chúa. Ông nhờ những người thân khiêng tới. Cảnh 4 anh em khiêng người bại liệt, trèo lên mái nhà, rỡ ngói, thả chiếc cáng xuống trước mặt Đức Giêsu, cho ta thấy một đức tin đơn sơ trong sáng.

Đức tin đơn sơ trong sáng không suy tính, do dự, nhưng cương quyết bắt tay vào việc làm. Nhìn thấy việc phải làm, họ bắt tay vào làm ngay không để chậm trễ, không mất thời giờ bàn bạc, so đo, tính toán, trốn tránh trách nhiệm. Biết người bệnh cần gặp Đức Giêsu, họ lập tức đi tìm cáng và bảo nhau khiêng người bệnh đến ngay.

Đức tin đơn sơ trong sáng lập tức lên đường, không chịu ngồi lỳ một chỗ. Đã quyết là lên đường ngay, không ngần ngại vì đường xa, không e dè vì gánh nặng. Họ khiêng người bệnh, nhưng bước chân vẫn thoăn thoắt, ánh mắt vẫn tin tưởng, nụ cười vẫn vui tươi vì tâm hồn họ luôn luôn sẵn sàng lên đường.

Đức tin đơn sơ trong sáng giúp họ đồng tâm nhất trí với nhau. Niềm tin chân thực loại trừ mọi xung khắc bất đồng, dẫn đến đoàn kết, hợp tác, cùng nhau làm những việc tốt có ích lợi cho người khác.

Đức tin đơn sơ trong sáng không lùi bước trước khó khăn. Gặp đám đông vây quanh, chắn lối đến với Đức Giêsu, họ không sờn lòng nản chí, không bàn chuyện tháo lui, nhưng cương quyết tìm biện pháp khắc phục những khó khăn. Đã nỗ lực đổ mồ hôi để khiêng người bệnh đến, giờ đây họ lại phải nỗ lực vận dụng mọi trí não để tìm cách đưa người bệnh đến tiếp cận Đức Giêsu. Đức tin trong sáng đã làm cho trí khôn họ trở nên sáng suốt. Họ mau chóng tìm được một lối khác để đến với Người.

Đức tin đơn sơ trong sáng có những sáng kiến tuyệt với, táo bạo. Không vào được cửa chính, họ trèo lên mái nhà. Không có cửa thì họ làm ra cửa. Tháo rỡ mái nhà quả là một biện pháp táo bạo. Biện pháp táo bạo càng chứng tỏ đức tin mãnh liệt của họ.

Đức tin trong sáng có sự tế nhị nhẹ nhàng. Chắc chắn họ phải xin phép chủ nhà và sau đó, phải lợp lại mái nhà hẳn hoi tử tế. Trước sự tế nhị của họ, chắc chắn chủ nhà phải hài lòng và cảm phục.

Đức tin trong sáng không nhiều lời. Tự những việc làm đã nói nhiều hơn những bài diễn văn lê thê. Họ chưa nói lời nào để cầu xin Chúa, nhưng nhìn thấy người bệnh được thòng xuống trước mặt mình, Đức Giêsu và tất cả mọi người đều thấy được đức tin của họ, và Đức Giêsu đã chữa bệnh trước khi họ cầu xin.

Nhìn vào đức tin trong sáng của 4 người khiêng, ta thấy đức tin của mình đang còn bị tê liệt, không hoạt động. Ta bị tê liệt vì những đam mê dục vọng trói buộc. Ta bị tê liệt vì những lười biếng thiếu cố gắng. Ta bị tê liệt vì những ước muốn nửa vời. Ta bị tê liệt vì lòng nguội lạnh thiếu nhạy cảm trước những nhu cầu thiêng liêng.

Hôm nay, ta hãy noi gương 4 người khiêng bệnh nhân. Hãy ra khỏi tình trạng tê liệt tâm hồn. Hãy lên đường, ra đi đừng ngại ngùng, do dự. Hãy biến đức tin thành những việc làm chuyên chở đức bác ái. Hãy phấn đấu vượt qua mọi khó khăn. Hãy sống đức tin một cách sáng tạo, vui tươi và đoàn kết. Một đức tin như thế sẽ trở thành ngọn đèn phá tan đi bóng tối đang phủ vây giăng mắc, soi đường cho ta đi đến với Chúa, cùng đích của đời ta.

Lạy Chúa, xin hãy thêm đức tin cho con. Amen.

X Suy Niệm:

Khi người bại liệt được đưa xuống trước mặt Ðức Giêsu,
Ngài cảm nhận ngay lòng tin mạnh mẽ của họ.
Lòng tin không chịu lùi bước trước khó khăn:
phải vượt qua đám đông chật cứng trước cửa.
Lòng tin tìm ra con đường khác thường để đến với Ðức Giêsu:
không qua bằng cửa chính, nhưng bằng lỗ hổng ở mái nhà.
Lòng tin mang tính tập thể, đồng tâm nhất trí:
người bại liệt cần bốn người bạn khiêng mình,
bốn người khiêng đồng ý cùng nhau giúp người bại liệt.
Lòng tin đòi nỗ lực, đổ mồ hôi:
khoét một lỗ to, khiêng lên mái, rồi từ từ thả xuống.
Lòng tin đòi sự tế nhị, nhẹ nhàng:
phải xin phép chủ nhà và phải sửa lại mái nhà sau đó,
phải khéo léo khi dỡ mái ngay trên chỗ Ðức Giêsu ngồi.
Lòng tin đòi sự liều lĩnh:
có thể Ðức Giêsu coi việc làm như vậy là khiếm nhã,
có thể Ngài bực bội vì bài giảng của mình bị xáo trộn.

Người nằm chõng và các người khiêng đều có lòng tin.
Nhìn họ, ta thấy mình tin ít biết chừng nào.
Tin đâu phải chỉ là thái độ của ý chí,
mà của cả con người, đầu để nghĩ, tay để làm.
Nhìn họ, ta thấy mình chưa thực sự biết muốn.
Nếu ta thực sự muốn và thực sự tin vào Chúa,
thì ta đã có thể ra khỏi sự bại liệt của mình từ lâu.

“Này con, các tội của con được tha”.
Người bại liệt chờ được khỏi, còn Ðức Giêsu lại tha tội cho anh.
Phải chăng tội là nguyên nhân cội rễ của sự bại liệt ?
Có lần Ðức Giêsu nói với một người bại liệt khác:
“Anh đã được khỏi.
Ðừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn hơn” (Ga 5,14).
Tha tội là chữa bệnh bại liệt của tâm hồn.
Như thế cuối cùng anh được giải phóng cả hồn lẫn xác.
Khi anh đứng dậy, vác chõng mà đi về nhà,
chúng ta thấy anh được tự do, hết bị trói buộc:
trói buộc vào chõng và trói buộc vào tội.

Các kinh sư bực bội khi nghe câu : “Tội con được tha.”
Họ hiểu là Ðức Giêsu tự cho mình quyền tha tội.
Như thế là phạm thượng, là tiếm quyền của một mình Thiên Chúa.
Chúng ta cần nhìn các kinh sư.
Họ ngồi một chỗ, không hề mở miệng, chỉ nghĩ trong lòng.
Họ bị khô cứng, kẹt cứng trong một nguyên tắc đúng.
Họ không tin Thiên Chúa có thể chia sẻ quyền này cho Ðức Giêsu.
Ngay khi người bại liệt đi được, có lẽ họ vẫn không tin.
Họ vẫn ngồi đó với những định kiến của mình.
Cả thân xác lẫn tinh thần của họ không dám chuyển động,
không dám mở ra để thấy cái gì khác hơn, mới hơn
mà trước đây họ chưa hề nghĩ tới.
Rốt cuộc thì ai bại liệt hơn ai?

Xin Chúa cho chúng ta thấy mình dễ bị bại liệt,
dễ khép lại trong những xác tín và công thức chắc nịch,
đến nỗi mất khả năng đón nhận những vén mở bất ngờ của Chúa.

X Cầu Nguyện:

Lạy Chúa,
xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải,
để con làm bật rễ khỏi lòng con
những ích kỷ và khép kín.

Xin cho con đức tin can đảm
để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến,
chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.

Xin cho con đức tin sáng suốt
để con thấy được thế giới
mà mắt phàm không thấy,
thấy được Ðấng Vô Hình,
nhưng rất gần gũi thân thương,
thấy được Ðức Kitô nơi những người nghèo khổ.

Xin cho con đức tin liều lĩnh,
dám mất tất cả chỉ vì yêu Chúa và tha nhân,
dám tiến bước trong bóng đêm
chỉ vì mang trong tim một đốm lửa của Chúa,
dám lội ngược dòng với thế gian
và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó.

Xin cho con đức tin vui tươi,
hạnh phúc vì biết những gì
đang chờ mình ở cuối đường,
sung sướng vì biết mình được yêu
ngay giữa những sa mù của cuộc sống.

Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp
qua những cọ xát đau thương của phận người,
để dù bao thăng trầm dâu bể,
con cũng không để tàn lụi niềm tin
vào Thiên Chúa và vào con người.

Nguồn: Manna B của LM. Nguyễn Cao Siêu, SJ

Advertisements

NGÀY 21-9 – THÁNH MATTHÊU, TÔNG ĐỒ – Tác giả Sách Tin Mừng – Lễ Kính – Bài giảng của ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Thánh Matthêu Tông đồ, Tác giả Sách Tin Mừng

BÀI ĐỌC: Ep 4, 1-7.11-13

Thưa anh em, tôi là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em.2 Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau.3 Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau.4Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng.5 Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa.6 Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người. 7 Nhưng mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tùy theo mức độ Đức Ki-tô ban cho.8 Vì thế, có lời Kinh Thánh nói: Người đã lên cao, dẫn theo một đám tù; Người đã ban ân huệ cho loài người.

TIN MỪNG: Mt 9, 9-13

Một hôm, Đức Giê-su đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi! ” Ông đứng dậy đi theo Người. 10 Khi Đức Giê-su đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ.11 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu nói với các môn đệ Người rằng: “Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy? “12 Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.13 Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”

ĐỂ LÀM TÔNG ĐỒ CỦA ĐỨC KITÔ

Đức Giêsu không chỉ muốn chọn 12 người Do Thái làm Tông Đồ để xây dựng Hội Thánh, mà Ngài còn muốn chọn muôn dân cùng chung tay góp sức làm cho ơn cứu độ bao trùm cả thế giới (x Mt 28,10-20).

Để trở thành Tông Đồ của Đức Kitô, hôm nay Hội Thánh mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng và học hỏi ơn gọi làm Tông Đồ của ông Matthêu:

–  Ý thức về tội của mình.

–  Năng hiệp dâng Thánh Lễ.

–  Chọn việc tốt nhất.

Mt 9,9-13 f

Đức Giê-su đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi! ” Ông đứng dậy đi theo Người. (Mt 9.9)

 

I. Ý THỨC VỀ TỘI CỦA MÌNH.

Càng ý thức mình là kẻ tội lỗi mà đi theo Chúa Giêsu thì càng làm vinh danh ngài. Đó là lý do Đức Giêsu nói: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà là những kẻ tội lỗi.” (Mt 9,13b: Tin Mừng).

Chúa không kêu gọi người công chính là Ngài không kêu gọi người tự mãn vào việc tuân giữ Lề Luật Môsê mà khinh dể người khác (x Lc 18,9), đến nỗi trở nên quyết liệt chống đối Đức Giêsu, và không muốn cho ai theo Ngài (x Ga 7,47-48).

Trước mặt Thiên Chúa không ai được kể là người công chính (x Tv 143/142,2). Đó là lý do thánh Phaolô nhắc lại Lời Kinh Thánh: “Không có ai công chính, một người cũng không. Hết thảy đều lầm lạc hư đốn cả lũ. Hành thiện không còn có ai, một người cũng không” ( Tv 14/13,1-3 = Rm 3,10-12). Vì lẽ đó mà “Luật lập ra cho loài người vô luân, chứ không phải cho người được công chính trong Chúa Kitô” (1Tm 1,9). Nhưng “ai đã được công chính trong Chúa Kitô, thì phải là người ngao ngán cực phiền trước thói phóng đãng của lũ người phi pháp” (2 Pr 2,7).

“Vi trùng phi pháp” xâm nhập linh hồn người ta, duy chỉ có “Lương Y Giêsu” mới chữa lành (x Cv 4,12). Bởi thế Giêsu trả lời cho kẻ chê trách Ngài đã dùng bữa với bọn thu thuế và quân tội lỗi: “Có cần đến lương y, hẳn không phải là người lành mạnh mà là kẻ đau ốm. đi mà học lời này là gì: Ta chuộng nhân nghĩa chứ không phải là lễ tế.” (Mt 9,12-13a: Tin Mừng).

Sở dĩ người ta kết án ông Lêvi (Matthêu) làm nghề thu thuế là kẻ có tội vì hai lý do:

1 –  Người thu thuế dễ lạm dụng quyền do đế quốc Roma cho: Thời ấy Roma không trực tiếp đứng ra thu thuế người Do Thái, mà họ trao cho người địa phương thầu. Người thu thuế chỉ cần nộp đủ số tiền thuế Roma đã quy định, nên họ dễ dựa vào kẽ hở của Luật để tìm cách thu cao hơn mức thuế đã ấn định mà người dân phải nộp. Đó là cách gian lận để làm giàu. Chính ông Giakêu cũng đã thú nhận tội này với Đức Giêsu, qua việc ông xin đền gấp bốn đối với những ai ông đã làm thiệt hại (x Lc 19,8b).

2 – Người thu thuế dưới cái nhìn của dân Do Thái còn phạm thêm hai loại tội:

·  Phản quốc: Lấy thuế của dân tộc nộp cho ngoại xâm, là củng cố ách thống trị của đế quốc đang đè nặng trên dân tộc ! Đó là hành động “rước voi về giày mồ”.

·  Phản đạo : Vì người Do Thái vẫn hằng tin tưởng vào Thiên Chúa mà cầu nguyện rằng: “Người ta cậy vào chiến xa pháo mã, còn dân chúng tôi chỉ trông chờ vào danh Chúa mà thôi” (Tv 20/19,8). Thế mà bọn thu thuế đã lấy thuế của người đồng chủng mà nộp cho ngoại bang, là một cách trông cậy vào thế lực của kẻ ngoại hơn là trông cậy vào Thiên Chúa. Nói cách khác: đặt uy danh Chúa dưới quyền lực của đế quốc Roma!

Nhưng ai biết ăn năn sám hối tội mình, thì đều đáng được Đức Giêsu kêu gọi để nên chứng nhân cho Ngài, một khi họ cảm nghiệm được “ở đâu tội lỗi nhiều, ở đó ân sủng Chúa ban càng chan chứa” (Rm 5,20).

Trong lịch sử cứu độ, người nào biết khiêm tốn thú nhận tội lỗi mình trước mặt Chúa, thì người ấy lại được Chúa làm việc lớn. Cụ thể như:

Ông Phêrô được làm Giáo hoàng.

–  Trong số 12 môn đệ Đức Giêsu chọn, chỉ ông Phêrô thú nhận với Thầy: “Xin Thầy xa con, vì con là kẻ có tội” (Lc 5,8), nên ông đã được Chúa đặt làm Giáo hoàng tiên khởi (x Mt 16,18), bởi đó trước khi Ngài chính thức trao quyền lãnh đạo Hội Thánh cho ông, Ngài đã khéo léo, tế nhị nhắc đến ba lần ông đã chối Thầy, bằng cách ba lần Ngài hỏi: “Con có yêu Thầy không ?”(x Ga 21,15t).

Ông Phaolô được làm Tông Đồ muôn dân:

–     Chính Phaolô đã thú nhận tội với nhiều người: “Tôi đã bắt bớ đạo Chúa đến chết chóc cũng không trừ, xiềng xích và tống giam đàn ông đàn bà” (Cv 22,4), và ông hạ mình đi học Giáo Lý nơi các môn đệ Đức Giêsu bị mang tiếng là “những kẻ vô học thức” (x Cv 4,13). Ông còn khiêm tốn thú nhận những tội trong lãnh vực luân lý đạo đức với các giáo đoàn:

–     Chẳng có gì lành cư ngụ trong tôi, sự lành tôi muốn, tôi không làm, còn sự dữ, tôi không muốn,tôi lại cứ làm (Rm 7,18-19).

–      Để mạc khải cao siêu khỏi làm tôi quá tự tôn, thì tôi đã được một cái dằm đâm vào thân xác, một thần sứ Satan, để nó vả mặt tôi. Về điều ấy, đã ba lần, tôi nài xin Chúa cho nó rời khỏi tôi. Nhưng Ngài đã phán bảo tôi: Ơn Ta đủ cho ngươi. Vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành (2Cr 12,7-9). Vì thế Chúa nhốt ông lại như lời ông nói: Tôi là tù nhân trong Chúa” (Ep 4,1: Bài đọc). Chúa đặt ông làm Tông Đồ muôn dân, còn 12 Tông Đồ kia chỉ lo cho dân Israel (x Gl 2,2.7), nên ông khoe với giáo đoàn Corintho: “Thiết tưởng nào tôi thua gì những Tông Đồ thượng đẳng” (2Cr 11,5). Ông được Chúa ban cho thành công hơn các Tông Đồ Đức Giêsu đã chọn trước Phục Sinh.

Vậy trong loài người không ai được mặc cảm mình là kẻ tội lỗi bất xứng, không đáng được Chúa kêu gọi làm Tông Đồ cho Ngài. Bởi vì cả đến tên trộm lành, suốt cuộc đời hắn chỉ làm khổ người ta. Khi bị đóng đinh trên thập giá hắn biết sám hối tội, xin Chúa thương xót, và xin được theo Ngài, hắn đã trở nên mẫu người động viên tất cả những kẻ tội lỗi biết sám hối tội mình mà đến với Chúa Giêsu, để được ơn hơn lòng mong ước (x Lc 23,43; Ep 3,20).

StMatthew21-9

Thánh Matthêu Tông đồ, Tác giả sách Tin Mừng

II. NĂNG HIỆP DÂNG THÁNH LỄ.

Hình ảnh bữa tiệc Đức Giêsu ngồi chung với những người tội lỗi tại nhà ông Mátthêu (x Mt 9,10: Tin Mừng), trở thành dấu chỉ bữa tiệc Thánh Thể Chúa mời gọi mọi người tham dự.

Ta biết ai được dự tiệc với Chúa Giêsu là dấu chỉ người đó được ơn giải phóng, được giao hòa với Thiên Chúa, được cứu độ. Chân lý này đã được diễn tả qua hình ảnh ông Gioakim, vua Do Thái thất trận đã bị tù ở bên Babylon. Ngày vua Babylon đăng quang, khi vua đã toàn thắng các nước chư hầu, vua đã phóng thích cho Gioakim khỏi cảnh tù đày, cho mặc áo vua và ngồi nơi ghế cao nhất trong bữa tiệc của vua tổ chức (x 2 V 25,27-29).

Thực vậy, Mạc Khải cho chúng ta biết ơn cứu độ được Chúa ban trọn vẹn cho con người luôn luôn được diễn tả trong bữa tiệc:

–   Ông Matthêu dọn tiệc để mời những người tội lỗi đến đồng bàn với Đức Giêsu và các môn đệ (x Mt 9,10:Tin Mừng).

–   Những cô trinh nữ khôn ngoan được vào dự tiệc cưới với chàng rể (x Mt 25,1-13).

–   Người đầy tớ trung tín làm trọn những nhiệm vụ chủ trao phó, khi chủ về, ông đặt đầy tớ vào bàn tiệc để hầu hạ (x Lc 12,35-37).

–   Đức Giêsu diễn tả những người được Ngài cứu độ là những khách được mời đến dự tiệc của vua, ai đến tham dự thì được sống, kẻ khước từ bị tru diệt (x Lc 14,15t).

–   Đứa con hoang đường trở về cũng như người con cả muốn được hưởng hạnh phúc bên cha thì phải dự tiệc của cha đã dọn (x Lc 15,11t).

–   Ngày cánh chung, khi Chúa cho mọi người từ cõi chết sống lại cả hồn lẫn xác, hạnh phúc nhất là những người công chính : người biết thương giúp đồng loại, nhằm quy tụ họ về với Chúa, trở thành những “kẻ bé nhỏ”, để tất cả được vào dự tiệc hoan lạc trong Nước Thiên Chúa (x Mt 25,31-46).

Mathew5

Thánh Matthêu Tông đồ, Tác giả sách Tin Mừng

III. CHỌN VIỆC TỐT NHẤT.

Một việc được gọi là tốt phải hội đủ ba yếu tố:

–  Bản chất việc đó tốt.

–  Thuộc bổn phận.

–  Hoàn cảnh bắt buộc phải làm trước.

Nhưng việc tốt cũng có ba cấp độ:

1 – Việc tốt thôi. Cụ thể như ông Mátthêu, nếu ông tôn trọng mọi người, sống công bằng, thì ông chỉ nên thu thuế đúng mức mà chính quyền đã ấn định, đó mới là một công chức lương thiện, góp phần điều hành tốt sinh hoạt xã hội. Việc này đơn thuần là tốt, vì nó nhằm mục đích phục vụ một số người đồng thời, trong một xã hội nhất định.

2 – Việc tốt hơn. Hãy bắt chước ông Mátthêu đã biết dùng tiền của để quy tụ những kẻ tội lỗi đến đồng bàn với Đức Giêsu. Như thế là tốt hơn vì ông đã biết sử dụng thực tại trần thế để xung vào việc tập họp mọi thụ tạo, nhất là người tội lỗi được đồng bàn với Đức Kitô, chung lời tôn vinh Chúa Cha (x 1Cr 3, 22-23). Đó là ta đã đóng góp vào chương trình cứu độ của Đức Kitô, trong một thời nhất định.

3 – Việc tốt nhất. Ông Mátthêu dám tin tưởng vào lời mời gọi của Đức Giêsu: “Hãy theo Ta”, nên ông đã mau mắn bỏ ngay kế sinh nhai thu thuế là nghề béo bở đi theo Đức Giêsu để đi thu góp Lời Chúa, một kho tàng cứu độ vô giá, lưu lại cho muôn thế hệ. Cụ thể ta thấy vai trò ưu thắng của Tin Mừng Mátthêu trong Phụng vụ Hội Thánh hơn 20 thế kỷ nay, dù ông bị mang tiếng là kẻ tội lỗi tày trời, đang mải miết bận rộn việc trần thế, mà Đức Giêsu không xa tránh ông, trái lại Ngài ân cần đến với ông như một y sĩ tận tình chăm sóc bệnh nhân, và như ông được tình yêu Đức Giêsu thôi thúc (x 2Cr 5,14) phải đi làm việc tốt nhất Ngài trao cho là loan Tin Mừng cứu độ. Căn cứ vào việc tốt nhất này, mà Công Đồng Vat.II trong Hiến Chế Hội Thánh số 35 có lý để nhắc nhở cho mọi Kitô hữu: “Giáo dân có thể và phải có một hoạt động cao quý là truyền bá Tin Mừng cho thế giới, cả lúc họ bận tâm lo lắng việc trần thế!”

Áp dụng chọn công thức “Tốt Thôi – Tốt Hơn – Tốt Nhất” vào cuộc sống chúng ta hôm nay, ví dụ: Tôi định xây dựng một căn nhà tốn tiền tỷ, thì tốt thôi; nhưng tôi bớt ra 50 triệu đồng để giúp vốn cho người nghèo có công ăn việc làm, thì tốt hơn; và nếu tôi quyết định chỉ dành 900 triệu xây nhà, và dâng cho Hội Thánh 100 triệu để làm phát triển Tin Mừng, thì tốt nhất. Tưởng rằng nhà xây một tỷ, hoặc 900 triệu thì cũng tương đương nhau. Nhưng ở nhà 900 triệu chắc chắn được Chúa chúc phúc hơn; hoặc ta định ăn sáng tô phở 20.000$, thì tốt thôi; nhưng ta lại ăn bánh mì, bớt được 5.000$ để chia sẻ cho người đói, thì tốt hơn; nhưng nếu để 5.000$ đó đóng góp vào việc truyền giáo thì tốt nhất! Đó mới thực là người Tông Đồ giỏi của Chúa.

Như thế việc Tông Đồ không dành riêng cho hàng giáo sĩ, mà Chúa còn muốn mọi Kitô hữu cộng tác khi ý thức thực hành lời thánh Tông Đồ dạy: “Tôi khuyên nhủ anh em phải sống xứng đáng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho: Phải ăn ở khiêm tốn, hiền từ, nhẫn nại, lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. Vì chỉ có một Thân Thể, một Thần Khí, một niềm tin, một Phép Rửa, một Thiên Chúa là Cha của mọi người. Mỗi người đã nhận được ân sủng tùy theo mức độ Đức Kitô ban: người này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng Thân Mình Đức Kitô, đạt tới sự xứng hợp trong Đức Tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,1-7.11-13 : Bài đọc).

Sống được như thế, ta mới hiệp cùng Hội Thánh dâng lời cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa, chúng con xin ca ngợi hát mừng, tuyên xưng Ngài là Đức Chúa. Lạy Chúa, bậc Tông Đồ đồng thanh ca ngợi Chúa” (Tung Hô Tin Mừng). Vì nhờ ơn Chúa trợ lực, các chứng nhân của Chúa đã làm cho muôn dân hô lên: “Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu” (Tv 19/18,5a : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Tôi là tù nhân trong Chúa để sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban(Ep 4,1).

Lm.Giuse Đinh Quang Thịnh

———————————————-

Nguồn: http://ductin.bplaced.net/index.php?option=com_content&view=article&id=973:ngay-21-thang-9-thanh-mattheu-tong-l-kinh&catid=31:loi-chua-hang-ngay&Itemid=46

————————————————————————–

THÁNH MATTHÊU TÔNG ĐỒ

TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG

Mc 10,13-16

1) Lêvi là tên gọi của thánh Matthêu tông đồ,thánh sử. Tin Mừng thuật lại khi Chúa Giêsu đi ngang qua bàn thuế, Người gọi Lêvi. Lêvi không chần chừ,không do dự,ông đứng dậy khỏi bàn thu thuế mà đi theo Chúa Giêsu.Ơn gọi của Lêvi thật là huyền diệu ! Chúa Giêsu không nói nhiều, Người chỉ nói một câu vỏn vẹn,ngắn ngủi :” Hãy theo Ta “.

2) Ðường Chúa chọn khác với cách cất nhắc của người đời thường làm.Chúa chọn ai tùy ý Người. Chúa cất nhắc ai là do ơn huệ nhưng không của Chúa.Không ai có quyền đòi Chúa phải thế này thế kia.Không ai được phép buộc Chúa phải gọi người này,không được gọi và chọn người khác. Con người phải có đôi mắt đức tin,con tim hiến tế mới nhận ra sự lạ lùng,kỳ diệu đó, vì ơn gọi của mỗi người là một mầu nhiệm.

3) Như mọi tông đồ khác trong nhóm 12 mà Chúa đã kêu mời. Chúa chỉ gọi họ, sau khi Chúa đã kết hiệp thân thân tình lâu giờ với Chúa Cha bằng lời cầu nguyện và sau khi Chúa đã hỏi ý Chúa Cha.

4) Lêvi,người thu thuế,một hạng người được coi làm tay sai cho ngoại bang, làm tay sai cho Ðế Quốc La Mã thời đó,một hạng người mang tiếng ăn bẩn, tội lỗi và không tốt. Chúa lại nghĩ khác vì Chúa thấu suốt tâm can của con người. Biệt phái,Pharisiêu,tư tế,thông luật luôn nghĩ xấu cho người khác , nên Chúa nói với họ:” Ta đến không để gọi những người công chính mà là gọi những người tội lỗi “( Mt 9,13) và “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc,người đau ốm mới cần ” ( Mt 9, 12 ).

5) Chúa đã mời gọi các tông đồ. Chúa đã sai họ đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cứu độ. Các tông đồ của Chúa sau khi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần,đã trở thành những chứng nhân hiên ngang làm chứng cho Chúa. Tất cả các tông đồ đã nhất loạt giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người, dù rằng họ phải trả giá rất đắt bằng chính mạng sống của họ cho việc làm chứng Chúa Kitô phục sinh.

6)Thánh Matthêu đã không ra khỏi con đường này. Ngài đã đi truyền giáo ở Êthiopi, Ba Tư, Parthes. Ngài đã nói lên sự thực này:” Chúa Giêsu chính là Ðấng cứu thế mà Cựu Ước hằng mong đợi. Lời chứng của thánh nhân được coi là đầy đủ nhất trong Tin Mừng của Ngài. Ngài đã được phúc tử đạo tại Tarium nước Êthiopi. Chúa đã trao cho Ngài triều thiên công chính .

7)  Thánh Matthêu sinh quán tại Capharnaum. Khi được Chúa gọi vào nhóm Mười Hai, ngài đang là một người thu thuế. Truyền thống tin rằng ngài đã viết Phúc Âm thứ nhất, nguyên bản tiếng Aramaic, nhưng sau đó đã được dịch sang tiếng Hy lạp.  Thánh nhân đã chịu tử đạo tại Ba Tư.

8)  Các thánh sử của Phúc Âm Nhất Lãm đều kể lại việc Chúa Giêsu kêu gọi thánh Matthêu xảy ra ngay sau khi Chúa chữa người bất toại tại Capharnaum. Khoảng một ngày sau phép lạ ấy, Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển, có đám đông dân chúng đi theo Người. Chúa đến đó từ một thành phố cảng nhỏ nằm giáp miền đất Perea, trên bờ bên kia sông Giođan. Trên đường, Chúa đã đi ngang qua bàn thu thuế của Matthêu

9)  Matthêu khi ấy đang làm việc trong ngành thuế vụ của vua Hêrôđê. Mặc dù không phải là một quan chức chính thức, nhưng ngài đã mua quyền được thu thuế. Chức vụ thu thuế không được người Do Thái kính nể, thậm chí còn bị nhiều người khinh bỉ. Tuy nhiên, đó lại là một chức vụ rất hấp dẫn, vì đem lại của cải giàu sang. Người thu thuế dường như có địa vị cao trong xã hội, vì khi Matthêu khoản đãi Chúa Giêsu trong nhà, có rất đông người thu thuế và những người vị vọng khác đến đồng bàn.

10)  Chúa kêu gọi Matthêu làm môn đệ khi Người đi ngang qua bàn thu thuế của ông. Matthêu đã chỗi dậy và đi theo Người. Sự đáp ứng của Matthêu rất mau mắn và quảng đại. Có lẽ ngài đã nhiều lần được gặp Thầy Chí Thánh, và chỉ chờ đợi cơ hội quan trọng này mà thôi. Ngài đã không chần chừ trong việc từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu. Chỉ một mình Thiên Chúa biết tại sao Người lại tuyển chọn Matthêu, và cũng chỉ một mình thánh nhân mới có thể cho chúng ta biết ngài đã nhận thấy điểm gì nơi Chúa Giêsu đến nỗi đã lập tức rời bàn thu thuế để đi theo Người.

11)  Thánh Matthêu trở thành một chứng nhân đặc biệt cho đời sống và cuộc tử nạn của Chúa Kitô. Ngài được tuyển chọn vào nhóm Mười Hai để theo Chúa đi khắp nơi. Ngài lắng nghe lời Thầy Chí Thánh, dõi theo sứ mạng của Người, và được tham dự bữa Tiệc Ly. Thánh nhân hiện diện khi Chúa lập bí tích Thánh Thể,  đích thân được nghe Chúa tuyên bố về giới luật yêu thương, và đồng hành đến vườn Cây Dầu với Người. Cùng các Tông Đồ khác, ngài cũng đau khổ vì đã bỏ rơi Chúa trong hồi Thương Khó. Tuy nhiên, chỉ sau đó ít lâu, ngài đã cảm được niềm vui Chúa Phục Sinh. Trước khi Chúa thăng thiên, thánh Matthêu là một trong những người được nhận lệnh truyền đem Tin Mừng cho khắp trần thế. Cùng với Đức Maria, thánh nhân đã được đón nhận linh ân Chúa Thánh Thần trong ngày hiện xuống.

12)  Chúa Giêsu đã đến nhà Matthêu dự tiệc. Có lẽ Chúa vui mừng và nhân dịp ấy muốn thu phục cả những bè bạn của người môn đệ mới của Người. Chúa Giêsu đã đáp lại lời phê bình của những người biệt phái một cách khôn ngoan mà giản dị: Không phải những người khỏe mạnh cần đến thầy thuốc, nhưng là những người yếu bệnh. Nhiều thực khách hôm ấy đã cảm thấy được Chúa thân ái đón nhận. Sau đó, chắc chắn họ đã được chịu phép rửa và trở nên những tín hữu trung thành.

13)  Trong khi viết Phúc Âm, chắc chắn thánh Matthêu đã bồi hồi nhớ lại nhiều kỷ niệm được sống gần gũi bên Chúa Giêsu, bởi vì cuộc sống bên cạnh Chúa thật là cao quí. Giả như ngài đã ngồi lại tại chiếc bàn thu thuế, có lẽ đời ngài đã khác xa biết bao. Chúng ta biết rằng cuộc đời sẽ trở nên giá trị nếu chúng ta sống hợp nhất với Chúa Kitô và hằng ngày trung thành đáp lại ơn Người. Chúng ta cũng sẽ trở nên những chứng nhân đắc lực cho Chúa nếu chúng ta biết vui mừng và mau mắn đáp lại tiếng Người

14)  Chúa dùng những đồng nghiệp, những liên hệ gia đình, hoặc các liên lạc xã hội để tỏ ra mục đích của Người. Cùng với ơn soi sáng cho chúng ta nhìn thấy ơn gọi, Chúa còn ban ơn sức mạnh giúp chúng ta mau mắn đáp lại và trung thành cho đến cùng. Nếu linh hồn không đáp lại tiếng Chúa mời gọi, có thể họ sẽ không còn một cơ hội nào khác nữa . Hơn nữa, có thể Chúa sẽ không trở lại gõ cửa lần thứ hai. Mọi sự lơ là với ân sủng đều làm cho tâm hồn ta ra chai đá.

 

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn bắt chước gương của Thánh Tông đồ : đón tiếp mọi người với tất cả tình thương mến. Xin cho chúng con biết nhìn nhận tội lỗi của mình mà sớm trở về với Chúa.  Xin cho chúng con đừng bao giờ nghĩ xấu và  loại trừ bất cứ một ai. Amen

Nguồn: http://ditimchanly.org/sach-kinh-thanh/truyen-cac-thanh/le-kinh-thanh-mattheu-tong-do-thanh-su-219.html

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

BÀI GIẢNG LỄ THÁNH MATTHÊU TÔNG ĐỒ THÁNH SỬ

CỦA ĐGM. PHÊRÔ NGUYỄN VĂN KHẢM 

(Xin bấm để nghe)

BÀI GIẢNG LỄ THÁNH MATTHÊU TÔNG ĐỒ THÁNH SỬ

 

Thứ Tư 20/09/2017 – Thánh Anrê Kim Têgon, Phaolô Chung Hasan và các bạn, tử đạo – SUY NIỆM LỜI CHÚA

0920-w2

Các Thánh Tử đạo Hàn Quốc

SUY NIỆM LỜI CHÚA NGÀY 20-9-2017:

Thái Ðộ Thiếu Nhất Quán

“Chúng tôi đã thổi sáo mà các anh không nhảy múa, chúng tôi đã hát những điệu bi ai mà các anh không khóc”.

* Nhờ việc tông đồ của một số giáo dân, đức tin Kitô giáo đã đi vào Hàn Quốc đầu thế kỷ XVII. Dù thiếu các mục tử, giáo đoàn vẫn sống đức tin hăng say và mạnh mẽ. Cộng đoàn được hướng dẫn và xây dựng hầu như chỉ nhờ những người giáo dân, cho tới cuối năm 1836, khi những nhà truyền giáo đầu tiên người Pháp bí mật đến xứ này.

Giáo đoàn này, với những cuộc bách hại vào những năm 1839, 1846, 1866, 1867, đã sản sinh ra 103 thánh tử đạo, trong đó nổi bật là linh mục đầu tiên người Hàn Quốc, cha Anrê Kim Têgon. Cha là một mục tử hăng hái nhiệt thành. Kế đó là người tông đồ giáo dân, anh Phaolô Chung Hasan.

Còn những vị khác, đa số là giáo dân nam, nữ, độc thân, có gia đình, người già, thanh niên, thiếu nhi. Tất cả đều đã lấy máu mình để làm chứng cho Chúa Kitô, làm nên mùa xuân tươi đẹp của Giáo Hội Hàn Quốc.

Saints- Adnrew Kim Taegon_Paul Chong Hasang

Thánh Anrê Kim Têgon, Phaolô Chung Hasan và các bạn, tử đạo

Lời Chúa: Lc 7, 31-35

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: “Ta sẽ phải nói những người của thế hệ này giống ai đây? Họ giống ai? Họ giống như những đứa trẻ ngồi ngoài đường phố gọi và nói với nhau rằng: “Chúng tôi đã thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa. “Chúng tôi đã hát những điệu bi ai, mà các anh không khóc”. Bởi vì khi Gioan Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ngươi bảo: “Người bị quỷ ám”. Khi Con Người đến có ăn có uống, thì các ngươi lại nói: “Kìa con người mê ăn tham uống, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi”. Nhưng sự khôn ngoan đã được minh chính bởi tất cả con cái mình”.

 

* Đọc GIỜ KINH PHỤNG VỤ  link CGKPV

 

* Các BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ

 

SUY NIỆM 1: Thái Ðộ Thiếu Nhất Quán

Ngày nay, nhân danh dân chủ, tự do ngôn luận, nhiều người muốn có một Giáo Hội của mình, một Giáo Hội được định đoạt theo những suy nghĩ của mình, chứ không là giáo lý do Chúa mạc khải và ủy thác cho Giáo Hội nữa. Muốn là Kitô hữu, nhưng lại không muốn chấp nhận giáo huấn của Chúa Kitô được ủy thác cho Giáo Hội, đó là một thái độ thiếu nhất quán. Chúng ta có thể thấy được một thái độ như thế trong bài Tin Mừng hôm nay.

Chúa Giêsu mượn hình ảnh nhóm trẻ chơi ngoài phố chợ để nói lên thái độ ấy. Chấp nhận cuộc chơi, nhưng khi tiếng sáo thổi lên thì lại không nhảy múa; chấp nhận diễn kịch, nhưng khi bài hát đưa đám được cất lên thì lại không khóc theo. Những người Do thái thời Chúa Giêsu cũng có phản ứng đối với Ngài không khác nào đám trẻ chơi ngoài phố chợ này. Họ mong chờ Ðấng Cứu Thế, Gioan Tẩy Giả loan báo về Ngài, nhưng họ không chấp nhận nếp sống khổ hạnh của ông, họ bảo ông bị quỉ ám; Chúa Giêsu khai mạc thời cứu thế bằng yêu thương, phục vụ, tha thứ, thì họ lại bảo rằng Ngài là tên ăn nhậu, hòa nhập với phường thu thuế và tội lỗi.

Mong chờ Ðấng Cứu Thế, nhưng không chấp nhận những thể hiện của thời cứu thế; trông đợi Ðấng Cứu Tinh, nhưng phải là Vị Cứu Tinh do mình tạo ra, đó là thái độ của những người Do thái thời Chúa Giêsu. Thái độ ấy cũng là cơn cám dỗ triền miên của các Kitô hữu thời đại chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta”. Chúng ta mang danh hiệu Kitô, chúng ta muốn làm môn đệ Ngài, nhưng có lẽ chúng ta chưa từ bỏ chính mình để chấp nhận và sống theo giáo huấn của Ngài.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta mặc lấy sự khôn ngoan của con cái Chúa, đó là sự khôn ngoan của trẻ thơ luôn biết sống khiêm tốn và tin tưởng. Xin Ngài củng cố chúng ta trong tâm tình ấy, để chúng ta luôn được trung thành với giáo huấn mà Ngài đã ủy thác cho Giáo Hội.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

SUY NIỆM 2: Bất tín kinh niên

“Vậy tôi phải ví thế hệ này với ai? Họ giống ai?

Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói:

Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa;

tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không khóc than.” (Lc. 7, 31-32)

Dù là ai, dù làm thế nào cũng luôn luôn có những kẻ chối bỏ mọi thứ, chối bỏ tất cả. Đó là trường hợp một số những kẻ đồng hương của Đức Kitô, họ mang bệnh kinh niên không tin gì hết, chối bỏ mọi chứng cớ hiển nhiên tới cùng. Đức Kitô gọi họ là “Dòng giống này”, một từ ngữ mang tính chất phán xét. Họ vẫn có ảo tưởng về một dân tộc được tuyển chọn, nhưng trong bốn mươi năm vượt sa mạc dầu được hưởng bao nhiêu phép lạ họ chứng kiến rõ ràng, họ vẫn không muốn theo Chúa.

Đức Giêsu so sánh họ với lũ trẻ ranh con quậy phá cứng đầu ngoài chợ. Chúng chơi dỡn để làm cho nhiều người múa nhảy, mà không ai theo, chúng hát bài đưa ma để làm cho người ta khóc, mà không ai thèm khóc. Chắc hẳn Đức Kitô muốn nói quá về những quậy phá của hạng người tai to mặt lớn quá ngu muội trong dụ ngôn nực cười này.

Khi kém lòng tin, không gì có thể mở tai mở mắt cho họ được. Ngôn sứ Gio-an Tẩy Giả đến và sống khắc khổ đến nỗi không ăn bánh, không uống rượu, họ xử với ông như kẻ bị quỷ ám. Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu Thế đến ăn uống như mọi người, không phải để hùa theo kẻ mê ăn uống, nhưng họ coi Người là tay ăn nhậu và họ xỉ nhục tố cáo Người là bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi. “Bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” đó là điều Đức Kitô muốn và đó là lý do Người đến trần gian: để cứu chữa những người tội lỗi và tật xấu. Người không ngừng nhắc đi nhắc lại điều đó, nhất là bằng việc làm. Điều đó làm cho kẻ chống đối và bất tín kinh niên giận dữ cho đến tận thế, những ai muốn theo Đức Kitô trên con đường này, đều vấp phải tâm thức trẻ con cố chấp này. Họ không bao giờ có lòng thương xót tha thứ. Giáo Hội biết rõ thế và đã quyết chí trở về với con đường của Đức Giêsu.

GF

Suy niệm 3:

Đức Giêsu ví những người thuộc thế hệ của Ngài 
với lũ trẻ ngồi chơi ngoài chợ (cc. 31-32). 
Các nhóm chơi với nhau, í ới gọi nhau. 
Một nhóm bày ra trò chơi đám cưới, 
thổi sáo, thổi kèn để mong nhóm kia nhảy múa. 
Nhưng nhóm kia đã không tham gia. 
Sau đó nhóm này bèn chơi trò đám ma, hát những bài ca buồn não nuột. 
Nhưng nhóm kia vẫn chẳng khóc than thương tiếc. 
Hẳn là chẳng vui gì khi có sự thụ động, lạnh nhạt như vậy. 
Dụ ngôn trên đây nói đến một số người khó chiều, bướng bỉnh. 
Dù thế nào thì họ cũng đứng ngoài, không chịu nhập vào cuộc chơi. 
Họ chẳng thích cả trò đám ma lẫn đám cưới. 
Qua dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn nói đến những người ở thời của Ngài. 
Họ có nét tương tự như lũ trẻ ngồi ngoài chợ. 
Khi Gioan Tẩy giả đến mời gọi họ sám hối ăn năn, 
đời sống khổ hạnh của vị ngôn sứ này đã khiến họ từ khước (Lc 7, 30). 
Đơn giản vì họ không thích khóc than hay hoán cải. 
Gioan ăn chay nên không ăn bánh, không uống rượu (c. 33). 
Lối sống của ông phù hợp với lời ông giảng về việc Nước Trời gần đến. 
Nhưng lối sống khác thường ấy lại bị xem là một triệu chứng tâm thần. 
Người ta đã coi ông là bị quỷ ám, 
nên ít người tin vào lời giảng của một người như thế. 
Khi Đức Giêsu đến với thế hệ này, 
Ngài đã không mang dáng dấp của một ẩn sĩ nơi hoang địa. 
Ngài đã sống như một người bình thường, ăn uống bình thường. 
Lối sống của Ngài phản ánh Tin Mừng Ngài rao giảng, 
một Tin Mừng đem lại niềm vui và sự giải phóng. 
Những bữa ăn trong đời Ngài đóng một vai trò quan trọng. 
Ngài ngồi ăn với những người bị xã hội loại trừ như người thu thuế. 
Ngài đón nhận vào bàn ăn cả những tội nhân cần tránh xa. 
Chính trong bầu khí vui tươi, ấm áp của bữa ăn 
mà họ cảm nhận được tình thương tha thứ của Thiên Chúa. 
Tiếc thay, Ngài cũng bị từ khước như Gioan, 
bị coi là kẻ chỉ biết ăn với nhậu (c. 34). 
Cả Gioan lẫn Đức Giêsu đều bó tay trước sự cố chấp của thế hệ này. 
Cả hai người, với hai lối sống nghịch nhau, cũng không chiều được họ. 
Khi sợ thay đổi chính mình, ai cũng có thể tìm ra được lý do để biện minh. 
Khi cố chấp và ngụy biện để khỏi phải đối diện với chân lý, 
con người chẳng được tự do. 
Nguy cơ của con người mọi thời vẫn là ở lại trong tình trạng trẻ con ấu trĩ. 
Làm sao để con người hôm nay có thể nghe được tiếng kêu của Gioan, 
mời gọi người ta thay đổi cuộc sống bằng cách chia sẻ (Lc 3, 10-14)? 
Làm sao thái độ bao dung của Đức Giêsu 
ảnh hưởng trên một thế giới còn nhiều hận thù, chia rẽ, loại trừ nhau? 

Cầu nguyện :

Lạy Cha, 
xin dạy chúng con biết cộng tác với nhau 
trong việc xây dựng Nước Trời ở trần gian. 
Xin cho chúng con đến với nhau 
không chút thành kiến, 
và tin tưởng vào thiện chí của nhau. 
Khi cộng tác với nhau, 
xin cho chúng con cảm thấy Cha hiện diện, 
nhờ đó chúng con vượt qua 
những tự ái nhỏ nhen, 
những tham vọng ích kỷ 
và những định kiến cằn cỗi. 
Ước gì chúng con dám từ bỏ mình, 
để tìm kiếm chân lý 
ở mọi nơi và mọi người, 
nhất là nơi những ai khác quan điểm. 
Lạy Cha, 
xin sai Thánh Thần đến trên chúng con, 
để chúng con biết lắng nghe nhau bằng quả tim, 
và hiểu nhau ngay trong những dị biệt. 
Nhờ sống mầu nhiệm cộng tác, 
xin cho chúng con được triển nở không ngừng 
và Thánh Ý Cha được thể hiện trên mặt đất. Amen. 
 

(Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ.)

Nguồn: http://gplongxuyen.org/NewsDetail.aspx?ID=20170919111300

————————————————————————-

BÀI ĐỌC THÊM:

Ngày 20/09: Thánh Anrê Kim Têgon, Phaolô Chung Hasang và các bạn tử vì đạo

Thánh Anrê Kim Têgon

Ngày 20/09:

Thánh ANDRÊ KIM TÊGON &
Thánh PHAOLÔ CHUNG
và các bạn tử vì đạo

1. Đôi dòng lịch sử

Hôm nay Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ kính thánh Andrê Kim và Thánh Phaolô Chung cùng các bạn tử đạo tại Giáo Hội Đại Hàn.

Phải nói Giáo Hội Đại Hàn đã được bắt đầu như một phép lạ. Nói theo cái nhìn của Chúa Giêsu thì Giáo Hội đó được bắt đầu như một hạt cải nhỏ bé nhưng bây giờ nó đã lớn lên, lớn lên mạnh mẽ và oai hùng trước sự kinh ngạc và cảm phục của nhiều người.

Nào có ai ngờ được rằng chỉ có một người. Người đó tên là Li Sung Hung. Người ta gọi Li Sung Hung là một học giả. Li Sung Hung đã đến Bắc Kinh năm 1784. Li Sung Hung được học đạo và rửa tội tại đây. Sau khi được trở thành một Kitô hữu, Li Sung Hung thấy mình là người được hạnh phúc. Li Sung Hung đã không muốn một mình vui hưởng niểm hạnh phúc đó. Li Sung Hung muốn chia sẻ niềm hạnh phúc đó cho đồng bào ruột thịt trên quê hương đất nước của mình. Thế là chỉ với một ít sách báo, tài liệu hiếm hoi, Li Sung Hung đã lên đường về nước rồi với nhiệt tình nóng bỏng truyền giáo, Li Sung Hung đã làm cho ngọn lửa Đức tin được bùng cháy lên.

Việc làm lúc đầu tưởng chừng chỉ là đơn độc và khó lan truyền, thế nhưng như lời Chúa tiên báo ngọn lửa đó đã bùng cháy lên.

Một Giáo Hội đã được thành hình. Không linh mục, thậm chí không có một nhà truyền giáo, chỉ có một giáo dân, rồi từ từ lan toả, từ từ lớn lên, bất chấp mọi trở ngại, bất chấp mọi khó khăn nhất là những hiểu lầm lúc khởi đầu.

Rồi ngay sau đó, nhờ những nỗ lực của một nhóm học giả Hàn quốc tìm tòi, nghiên cứu về đức tin công giáo qua các sách vở mà ông Li Sung Hung đã mang về từ Trung Hoa, những người giáo dân Hàn quốc này bắt đầu dạy giáo lý cho những người khác và rửa tội cho họ. Mãi tới 11 năm sau (1784- 1795), nhờ sự học hỏi tìn hiểu sâu rộng, nhóm giáo dân công giáo đầu tiên này mới bắt đầu nhận thấy: họ cần có một linh mục. Thế là một đại diện ngoại giao đoàn đã được gửi sang Bắc kinh. Đức giám mục Bắc kinh đã chấp thuận ngay lập tức. Và vào năm 1795, cha Chumuymô, vị linh mục thuộc giáo phận Bắc kinh đã chính thức được cử sang Đại hàn và trở thành nhà truyền giáo đầu tiên tại đây.

Giáo hội Đại Hàn bắt đầu lớn lên và càng ngày càng lớn nhanh, lớn mạnh. Thế nhưng cũng như bất cứ Giáo hội nào của Chúa, như một định luật chung, cứ bắt đầu thành hình, lớn lên là bắt đầu chịu nhiều cản trở, cấm đoán cản ngăn, thậm chí nhiều khi còn đi đến chỗ bị bắt bớ tiêu diệt.

Giáo Hội Đại hàn đã phải trải qua một cơn đại họa kéo dài 100 năm như thế.

St Andrew Kim and Paul Hasang

Trong khoảng thời gian kéo dài gần 100 năm đó, lịch sử còn ghi lại con số 103 vị tử đạo. Trong số 103 vị tử đạo này có 92 giáo dân thuộc đủ mọi giai cấp trong xã hội, 45 người nam và 47 phụ nữ. Nổi bật nhất là  vị linh mục đầu tiên tại đất nước Hàn quốc là Andrê Kim Têgôn và mười nhà truyền giáo Pháp. Trong số 103 vị tử đạo, 79 vị đã được phong chân phước năm 1925, họ là nạn nhân của cuộc bách hại đầu tiên, và 24 vị được nâng lên hàng chân phước năm 1968, là nạn nhân của cuộc bách hại sau này.

Cha Chumuymô cũng được phúc tử đạo. Cùng chịu tử đạo với ngài lúc đó, có khoảng 300 người mới trở lại đạo.

Bên cạnh đó, người ta không thể không nhắc đến ông Phaolô Chung, một nhân công trong một xưởng dệt dây thừng, một gương mặt tiêu biểu cho những người công nhân, đã được rửa tội năm 30 tuổi, và đã hoạt động tích cực trong việc truyền bá đức tin công giáo bằng cách giấu ẩn các tín hữu trong vùng khi họ đến nhận lĩnh các bí tích. Ông đã bị bắt vào năm 1839, bị tống ngục và bị tra tấn dã man. Vì không chịu đựng được những cực hình, ông đã đồng ý chối đạo, và được trả lại tự do. Tuy nhiên, sau đó ông hối hận và trở lại nói với chánh án, là ông muốn rút lại lời tuyên bố chối đạo. Một lần nữa, ông bị bắt giam tù và bị đánh đập. Ông chết vì các vết thương làm độc, năm ấy ông 41 tuổi.

Năm 1984, Giáo hội công giáo Hàn quốc mừng lễ kỷ niệm 200 năm ngày học giả trẻ tuổi Li Sung Hung đến Bắc Kinh năm 1784, được rửa tội tại đây, đoạn trở về quê hương với một số sách đạo và một ánh lửa đức tin, để rồi sau đó làm bùng cháy ngọn lửa đức tin công giáo tại Hàn quốc.

Ngày 6.5.1984, tại Seoul, Nam Hàn, trong một thánh lễ phong thánh đầu tiên được cử hành ngoài Rôma kể từ thế kỷ XIII, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nâng 103 vị tử đạo lên bàn thờ và gọi dịp này là ngày vui mừng nhất, ngày trọng đại nhất trong lịch sử Giáo hội Công giáo tại Hàn quốc.

Các Thánh Tử đạo Hàn Quốc

2. Bài học đáng nhớ: Vai trò của những người giáo dân trong công việc mở mang nước Chúa.

Sắc Lệnh Tông Ðồ Giáo Dân đã nói rất mạnh: “Thời gian mà các tín hữu chỉ đóng vai trò thụ động đã qua rồi. Ngày nay Giáo Hội đặt niềm tin ở sự can thiệp, ở sáng kiến cũng như nơi sự tuân phục của con cái mình.”

Quả thực ngày nay khi nhìn vào Giáo Hội tại Đại Hàn, không ai mà không nhận thấy các tín hữu của họ đã đóng một vai trò hết sức năng động và hữu hiệu trong đời sống của Giáo Hội.

Ước gì mỗi người trong giáo xứ chúng ta cũng ý thức được vai trò của mình trong công việc xây dựng giáo xứ mình như thế.

Hai ông giáo dân gặp nhau giữa phố chợ. Ông thứ nhất nói:

– Ông có nghĩ rằng chúng ta nên giúp cha xứ một tay không?

Ông thứ hai đáp:

– Tôi cũng thường nghĩ tới chuyện đó, nhưng sao tôi thấy hình như ngài đã chọn riêng vài người phụ giúp rồi, tôi không muốn chen vào nhóm đầu não này.

– Ừ, ông sẽ thấy nhóm này luôn quanh quẩn bên cha xứ, cứ như họ thuộc một hội kín có mật khẩu nào đó.

Một trong những người thuộc nhóm giúp cha xứ, mà hai ông này đang nói tới, tiến đến góp lời:

– Thực ra cũng có nhóm môn đệ nòng cốt, nếu các ông muốn tham gia, tôi sẽ tiết lộ mật khẩu cho.

Hai người kia đồng thanh:

– Nào, nói cho chúng tôi nghe đi.

Ông kia đáp:

– Khi cha đến xứ mình, trước hết, ngài cần nhiều đôi tay góp sức. Ngài đã mời được nhiều người, nhưng chỉ những người biết mật khẩu mới ở lại giúp ngài. Mật khẩu là: “Xin Vâng.”

(John C.Hicks)

Nguồn: http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20160920/27731

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Ngày 20 tháng 9 – Thánh Gioan Carôlô Cornay (Tân), Linh mục Thừa Sai Paris, Tử đạo (1809-1837)

Loudun_église_St_Pierre_statue_JC_Cornay_(1) (1)

Tượng Thánh Jean Charles Cornay (Tân), Linh mục tử đạo tại Việt Nam ngày 20-9-1837

 Thánh Gioan Carôlô Cornay (Tân) sinh ngày 27 tháng 2 năm 1809 tại Loudun, Poitiers, nước Pháp, là con thứ ba của ông bà Gioan Baotixita Cornay làm nghề bán vải. Sau khi mãn trường ở bậc tiểu học, cậu xin vào học trong chủng viện Saumur và Mont Morillon; rồi năm 1827, Jean Charles Cornay xin vào đại chủng viện Poitiers với ý định sau này sẽ trở thành linh mục Thừa Sai

Thế rồi cơ may tới, năm 1830 một linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris (MEP) được mời tới giảng tuần tĩnh tâm cho các thầy Đại Chủng Sinh. Thầy Jean Carôlô Cornay gặp vị giảng thuyết, bàn hỏi việc linh hồn, bày tỏ ý nguyện ước mong được đi truyền giáo, trở thành linh mục Thừa Sai. Vị giảng thuyết thấy ý nguyện chính đáng của thầy thì khích lệ và khuyên thầy nên trực tiếp gặp bề trên Hội Thừa Sai Paris và thầy được nhận vào Hội Thừa Sai. Năm 1831, thầy lãnh chức Phó Tế rồi ngay sau đó, ngày 17 tháng 9 năm 1831 thầy rời Bordeaux xuống tàu đi truyền giáo tại Viễn Đông. Tới Macao tháng 3 năm 1832, ít ngày sau, bề trên lại gửi thầy đi tới tỉnh Tứ Xuyên, Trung Hoa. Trên đường đi lại gặp trở ngại, vì đường vào Quảng Đông bị cấm ngặt.  Bởi vậy, thầy phải vào Việt nam để đi bộ theo lối Vân Nam với hy vọng sẽ dễ dàng hơn. Một chuyện không may khác lại xảy đến, đó là hai người Công giáo Trung Hoa từ tỉnh Tứ Xuyên đi đón thầy, khi tới Hà Nội thì lại bị bệnh dịch tả mà chết, nên thầy phải xuống địa phận Nam, được Đức Cha Harvard Du truyền chức linh mục ngày 20 tháng 4 năm 1834, và nhận tên Việt Nam là Tân. Sau khi lãnh chức linh mục, cha lên Sơn Tây Sơn phục vụ truyền giáo ở địa phận Tây Đàng Ngoài. Ý nguyện đi truyền giáo tại Trung Hoa mãi tới năm 1836, cha thấy rằng con đường đi Trung Hoa vẫn không thể được nên cha quyết định ở lại làm việc tại Việt Nam.  Bề trên gửi Ngài tới xứ Bầu Nọ giúp cha Marette cùng với hai thầy Giảng Phaolô Mỹ và Phêrô Đường. Hai thầy Giảng này sau cũng bị bắt cùng ngày với cha và cũng được phúc tử vì đạo.

Ba tháng đầu mới tới Việt Nam Ngài phải trải qua một cuộc thử thách khá cam go. Vì thời tiết, nhất là vì khí hậu của vùng nhiệt đới nên ngài bị đủ các chứng bệnh, nào là bị sốt rét thương hàn, nhức đầu, đau tai, nhức răng, đau mắt v.v. Nhiều người khuyên Ngài trở về Pháp quốc để chữa trị, nhưng Ngài nói:

“ Chúa đã sai tôi đến đây. Tôi chọn Việt Nam làm quê hương thứ hai của tôi rồi, nếu có phải chết, tôi xin chết tại đây. Tôi không đi đâu nữa.”

Cha Gioan Carôlô Cornay Tân làm việc ở xứ Bầu Nọ được một thời gian vui vẻ thì lệnh cấm đạo của vua Minh Mạng ban ra, nhưng quan trấn tỉnh Sơn Tây khi ấy là Lê Văn Đức cũng có cảm tình với nhiều người Công giáo nên quan cũng lơ là với sắc lệnh của vua, nhờ vậy mà các nhà truyền giáo hoạt động tương đối còn dễ dàng. Tại làng Bầu Nọ có một thanh niên tên là Đức. Anh này đứng đầu một băng đảng chuyên ăn trộm ăn cướp. Người ta đã bắt và nộp cho quan, anh ta lại sẵn có tiền án tù tội vì những tội nói trên. Nay được tha, anh ta được về và sinh lòng ghen ghét những người Công giáo vì anh ta nghĩ rằng do những người Công giáo tố cáo mà anh ta bị bắt. Thế là anh ta sinh ra thù hằn, muốn trả thù những người Công Giáo, đồng thời muốn lập công chạy tội. Anh ta vu khống và đi tố cáo với quan tuần phủ cha Cornay Tân là người xúi giục dân chúng nổi loạn. Anh ta lại xếp đặt lập kế cho người vợ tên là Yến giả vờ xin học đạo để biết chắc chắn chỗ ở của cha Cornay Tân, rồi ban đêm anh ta lén vào khu vườn nơi cha ở, anh ta chôn vũ khí. Sau khi đã làm xong các việc như ý định, anh ta đi trình báo cho quan. Khi quan nghe báo cáo rõ ràng việc cha Cornay Tân xúi giục dân nổi loạn thì hoảng sợ. Ngày 20 tháng 6 năm 1837 quan cấp tốc đem 1500 quân lính tới bao vây làng Bầu Nọ bắt cho bằng được cha Cornay Tân với ý định dẹp tan cuộc nổi loạn như tên Đức báo cáo.

Lúc quan quân kéo đến vây làng Bầu Nọ, ông lý trưởng làng Bầu Nọ cũng là người Công giáo rất ngạc nhiên và muốn bao che cho cha Cornay Tân. Nhưng khi quan dẫn ông lý trưởng tới ngay chỗ chôn giấu vũ khí tên Đức đã chỉ, đào lên thấy khí giới, quan liền đánh ông lý và tra khảo chỗ trú ẩn của các vị Thừa Sai. Cha Cornay Tân đang ẩn trong bụi cây gần đó thấy ông lý bị đánh đập tàn nhẫn, liền ra tự thú. Quan quân vui mừng bắt luôn và đóng gông, nhốt vào cũi giải ngay về tỉnh Sơn Tây.

Nghe tin cha bị bắt, dân chúng cả lương lẫn giáo kéo nhau ra đứng chật hai bên đường. Nhiều người nói ồn ào:

– “Ông cha này hiền lành, giúp đỡ nhiều người. Có bao giờ ổng xúi giục ai nổi loạn đâu mà vu khống cho ổng như thế. Thật là tội nghiệp cho người hiền lành, dễ thương”.

Một bà có vẻ thông thạo, biết chuyện nói thêm vào:

– “Chắc là những kẻ không ưa ngài, vu khống đấy thôi. Ở đời còn lạ gì. Kẻ ưa người ghét, chỉ tội cho người hiền lành”

Khi quân lính khiêng chiếc cũi nhốt Ngài bên trong, người ta thấy Ngài vui vẻ, giơ tay vẫy chào mọi người, trông thật cảm động. Có người thấy Ngài bị nhốt trong cũi mà còn phải đeo gông, đã lớn tiếng kêu lên:

– “Giêsu Maria, đã nhốt trong cũi rồi mà còn bắt cha phải đeo gông, sao ác độc quá vậy? Xin cha cầu nguyện cho chúng con, cha ơi!”.

Đoàn người ngậm ngùi đứng nhìn quan quân lũ lượt kéo nhau trở về với chiến lợi phẩm là bắt được một vị Thừa Sai, tông đồ truyền giáo đeo gông ngồi trong chiếc cũi, bị khênh đi như một con thú vật! Thế nhưng vị tông đồ của Chúa vẫn vui vẻ, miệng luôn ca hát, đọc kinh suốt cuộc hành trình từ làng Bầu Nọ tới tỉnh Sơn Tây. Những người lính đi sát bên cha thấy cha vui vẻ, ca hát, đọc kinh, cầu nguyện trường kỳ như vậy thì lấy làm lạ, họ hỏi cha:

– “Này ông cố Tây, ông bị bắt, bị đánh đập và bây giờ bị đeo gông nhốt trong cũi như vậy mà tại sao ông còn vui vẻ ca hát như thế được?”

Cha thân thiện trả lời:

– “Tôi bị bắt và chịu cực hình như thế này vì Chúa tôi thờ. Người là Thiên Chúa, Người làm chủ vạn vật. Tôi được chịu khổ như thế này vì Người thì tôi lấy làm hạnh phúc lắm”.

Cha hát rất hay, giọng hát rất truyền cảm nên các quan bắt cha hát suốt mấy ngày. Có lần trước khi được ăn, các quan yêu cầu cha hát, cha chọn hát một bài thánh ca về Đức Mẹ, các quan rất thích. Sau đó các quan dụ Ngài bỏ đạo, quan nói với cha:

– “Ông còn quá trẻ lại hát hay và tài giỏi như thế, chết uổng lắm. Ông hãy bước qua Thánh Giá thì tôi sẽ liệu cách cho ông về”.

Cha nghe nói thì lắc đầu chối:

– “Nếu quan lớn tha thì tôi về, còn việc bước qua Thánh Giá thì không bao giờ có thể xảy ra được”.

Thấy thái độ cương quyết của Cha, quan truyền nhốt lại trong ngục tù  Vua Minh Mạng được tường trình về trường hợp của cha, vua trao quyền cho các quan tỉnh Sơn Tây ép buộc cha nhận tội xúi giục dân chúng làm loạn rồi xử tử Ngài. Nhưng bao nhiêu lần ép buộc, cha vẫn không nhận. Bị ép buộc quá, cha thẳng thắn trả lời:

– “Thưa các quan lớn, tôi chỉ chuyên lo giảng dạy đạo thật cho người ta, luôn khuyên bảo làm lành lánh dữ, dạy con cái thảo hiếu với cha mẹ, dạy dân chúng phải tùng phục vua quan, cầu nguyện cho vua quan biết thương dân trị nước. Như vậy làm sao tôi có thể làm ngược lại những điều chúng tôi khuyên dạy người dân? Không bao giờ tôi khuyên dân làm loạn. Ai báo cáo với các quan là tôi xúi dân làm loạn, đó là điều vu khống. Tôi phủ nhận hoàn toàn”.

Lần cuối cùng cha bị đem ra tra tấn, bị đánh 50 roi bằng những chiếc roi kép bện bằng nhiều sợi dây, đầu mỗi sợi dây có một miếng chì, nên mỗi lần bị đánh những đầu chì móc da thịt, máu chảy đầm đìa cả áo quần. Dù bị đau đớn như thế nhưng cha vẫn cắn răng chịu đựng, không hề kêu ca, than trách. Lính đánh cha nát ba chiếc roi kép bện, bắt cha nhận tội làm loạn. Cha dứt khoát không nhận. Bọn chúng lại bắt cha bước lên Thánh Giá, cha âu yếm ôm cây Thánh Giá hôn kính. Bọn lính lại đấm đá lên đầu lên cổ cha, mà cha vẫn bình tĩnh, đứng lên tiếp tục hát thánh ca.

Giam giữ cha hơn bốn tháng trời mà vẫn không khuyên dụ cha bước lên Thánh Giá và bỏ đạo được. các quan bàn tính kết án cha phải chém đầu. Bản án gửi về triều đình Huế, xin vua châu phê. Vua Minh mạng đọc bản án xong, liền lấy bút sửa lại thành án lăng trì. Bản án gửi lại cho quan Tây Sơn. Cha  Jaccard Phan biết tin, vội cấp báo cho cha Cornay Tân. Được tin, Ngài vội biên thư cám ơn cha Jaccard Phan và gửi lời vĩnh biệt mọi người. Ngài cũng nhờ cha Phan chuyển mấy lời vắn tắt về từ giã gia đình như sau:

“ Cha mẹ yêu quí, xin cha mẹ đừng buồn về cái chết của con. Đây không phải là ngày than khóc mà là ngày vui mừng. Xin cha mẹ hãy nghĩ rằng sau những đau khổ ngắn ngủi con phải chịu thì con sẽ luôn nhớ đến cha mẹ trên Trời. Xin nhận nơi đây tấm lòng thảo hiếu của con. Jean Charles Cornay”

Jean-Charles_Cornay

Lm. Jean Charles Cornay (Tân) chịu Án xử Lăng Trì: Chặt đầu, chặt 2 chân, chặt 2 tay, mổ bụng, xẻ xác làm 4, lý hình moi gan để ăn, uống máu vị tử đạo

Sáng ngày 20 tháng 9 năm 1837 quan giám sát cùng đội quân hùng hậu gươm giáo đưa cha Gioan Carôlô Cornay Tân ra pháp trường Năm Mẫu tỉnh Sơn Tây. Ngài vẫn bị nhốt trong chiếc cũi sắt, quân lính khênh đi, ngồi cuộn mình trong chiếc cũi nhỏ chật hẹp, vị tông đồ anh hùng của Chúa vẫn tiếp tục cầu nguyện và hát thánh ca. Những người đi theo sau đoàn quân, nghe cha hát. Họ nói với nhau:

– “Thật lạ lùng, bị đem đi chém đầu mà vẫn ca hát được. Thật là khó hiểu”.

Kẻ khác nói lại:

– “Vì Ngài tin ở Chúa, chết để làm chứng cho đạo Chúa thì Ngài không còn sợ hãi. Ngài là nhà truyền giáo thật anh hùng”

Một bà nói lớn, không biết cha có nghe thấy không:

– “Cha ơi! Cha lên Thiên Đàng nhớ đến chúng con ở xứ Bầu Nọ nhé. Chúng con thương mến cha lắm”.

Tới nơi xử, cha xin mấy phút cầu nguyện dâng phó linh hồn cho Chúa, rồi cha tự cởi áo và nằm trên thảm đã trải sẵn. Đội lý hình đóng bốn chiếc cọc bốn phía, trói chân tay vào các cọc, chờ lệnh sẽ thi hành bổn phận.

Theo thông lệ bị án lăng trì thì phải chặt hai chân trước, rồi tới hai tay, sau hai tay rồi mới chặt đầu, cuối cùng mổ bụng, chặt thân hình ra làm bốn. Nhưng hôm nay quan thấy cha còn quá trẻ, lại hiền lành vui vẻ, ca hát thật hay, nên quan thương và tỏ ra nhân đạo hơn. Quan ra lệnh chặt đầu trước rồi mới chặt chân tay sau, rồi phân thân hình Ngài ra làm bốn. Bọn lý hình thấy cha quá can đảm thì tin rằng ăn gan của cha sẽ được can đảm hơn, nên họ lấy gan của Ngài chia nhau ăn. Có người còn liếm máu còn dính ở lưỡi gươm. Họ tin ăn gan và uống máu người can đảm như thế thì sẽ được khỏe mạnh và can đảm như người đã bị giết.

Chứng kiến cảnh tàn bạo, ghê tởm này, nhiều người khóc thét lên, ôm mặt không dám nhìn. Quan cho lệnh xua đuổi không cho dân tới gần. Nhiều tiếng khóc than từ xa xa vọng lại, nghe thật đau buồn thảm thiết.

Trước ảnh rùng rợn đó ông Trưởng xóm Bách Lộc đã tình nguyện tới xin quan cho nhận thi thể Ngài để chôn cất. Quan cho phép và ông đã thu nhặt đầu, thi thể, tay chân xếp vào một chiếc hòm rồi chôn cất ngay tại pháp trường Năm Mẫu, sau này ông Trưởng cũng xin theo đạo Công giáo. Mấy tháng sau đã cải táng đem về an táng trong phần đất của dòng Mến Thánh Giá Chiêu Ứng.

Đức Giáo Hoàng Leô XIII đã suy tôn Ngài lên bậc Chân Phước Tử Đạo ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

———————————————–

Nguồn: http://ltxcvntls.clicforum.com/t4138-Th-nh-Gioan-Car-l-Cornay-T-n-Phanxic-Jaccard-Phan-T-ma-Tr-n-V-n-Thi-n.htm

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Ngày 19-9: Thánh Januariô, Giám mục Tử đạo (270-305)

 

 

 

Thánh Januariô sinh vào thế kỷ thứ 4 tại nước Ý. Quê hương của ngài là Bênêventô hoặc có thể là Napôli. Januariô làm Giám mục giáo phận Bênêventô khi xảy ra cuộc bách hại của Điôclêsianô. Thánh Januariô được dân chúng gọi là “San Gennarô”, nghĩa là thánh Gennarô.

Theo truyền thuyết, San Gennarô biết được một số thầy phó tế bị giam tù vì đức tin. Đức Giám mục là một người hiền lành và có lòng trắc ẩn. Ngài thực lòng quan tâm đến bổn đạo và ngài đã đi tới nhà tù để thăm viếng họ. Người cai tù báo tin cho ông thống đốc, và ông này đã sai quân lính của mình tới tìm San Gennarô. Đức Giám mục đã bị bắt cùng với một thầy phó tế và một diễn giả. Họ bị giam cùng với các tù nhân khác.

Thế rồi, San Gennarô và sáu người khác đã chịu tử đạo. Cái chết của họ xảy ra gần thành phố Napôli vào khoảng năm 305. Dân thành Napôli đã dành cho San Gennarô một lòng yêu mến và tôn kính đặc biệt. Thực ra, ngài được xem như thánh bổn mạng của họ.

Dân thành Napôli còn tưởng nhớ San Gennarô vì một lý do đặc biệt khác: máu tử đạo của thánh nhân đã được cất giữ hàng mấy thế kỷ trước trong một chiếc lọ nhỏ. Máu đã hóa nên sẫm và khô. Nhưng tại một vài thời điểm nào đó trong năm, máu lại hóa lỏng. Nó trở nên đỏ, đôi lúc đỏ tươi. Thỉnh thoảng máu cũng sủi bọt. Hiện tượng đặc biệt chứa trong lọ máu được tôn kính cách công khai vào thứ Bảy đầu tháng Năm, ngày 19 tháng Chín (lễ kính thánh San Gennarô), và kéo dài suốt tám ngày (tính từ sau lễ kính thánh nhân); đôi lúc cũng được kính vào ngày 16 tháng Mười Hai. Lọ máu hóa lỏng này được nhìn nhận và được tôn kính từ thế kỷ thứ 13.

———————————————————-

BÀI ĐỌC THÊM:

 Thánh Januariô, Giám Mục Tử Đạo

Thánh Januariô sinh năm 270 tại nước Ý. Năm 320 thụ phong linh mục và sau đó ít lâu lại được bầu làm Giám Mục Bénévent. Đó cũng là lúc hoàng đế Điôclêtianô và Maximinô đang ra tay bách hại người Công Giáo. Mặc dù nhận lãnh chức vụ chủ chăn gặp lúc tình thế khó khăn, thánh nhân cũng đã đem hết lòng nhiệt thành phụng sự nước Chúa, danh tiếng ngài đồn thổi khắp nơi. Ngài cũng giữ một vai trò quan trọng trong cộng đồng Sardique, vì thế ngài đã trở nên như đích tấn công của kẻ thù Giáo Hội.

Cuộc bách hại Giáo Hội càng ngày càng khốc liệt hơn. Ngài thường tìm cách đi thăm viếng những người Công Giáo đang bị giam cầm để củng cố lòng tin và an ủi khích lệ họ. Ngài đến Puozzoles và bị bắt. Sau những cuộc tra tấn thật dã man, ngài bị kết án tử hình và bị ném cho thú dữ xâu xé, nhưng Chúa đã làm phép lạ tỏ tường để gìn giữ thân xác ngài toàn vẹn. Năm 305, ngài được lãnh triều thiên tử đạo tại đó.

Thánh Januariô được nhiều người tôn kính vì nhân đức và lòng nhiệt thành và nhất là vì phép lạ của máu ngài được giữ lại: máu thánh nhân được chứa trong một bình thủy tinh, thỉnh thoảng máu ấy chảy loãng ra và mang màu đỏ tươi. Khoa học xác nhận là có đầy đủ đặc tính như máu một người sống. Lúc thường máu ấy đọng khô và đen sẫm. Hiện tượng này xảy ra mỗi năm 3 lần vào tháng Năm, tháng Chín và tháng Mười Hai và trong quá khứ đã báo trước những thiên tai khủng khiếp ở nước Ý. Phép lạ này hiện nay vẫn còn tái diễn tại nhà thờ Naples và dân chúng thành này đã nhận ngài làm thánh bổn mạng.

Nguồn: tinmung.net
—————————–

VIDEO: 

Phép lạ máu thánh Januarius hóa lỏng khi Đức Phanxicô ban phép lành

(Xin bấm để xem video)

Phép lạ máu thánh Januarius hóa lỏng khi Đức Phanxicô ban phép lành

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Ngày 18-9 – Thánh Đaminh TRẠCH Linh mục dòng Đaminh, Tử đạo – (1793 – 1840)

DaminhTrach

Chứng nhân sự sống bất diệt.

“Thưa quan, nếu quan muốn được sự sống bất diệt, xin quan kính lạy Thánh Giá này”.
Vị anh hùng Kitô giáo khi bị ép buộc bước qua Thập Giá, đã bình tĩnh hiên ngang giảng về Thập Giá cho chính viên quan đó là thánh Đaminh Trạch.

Chào đời năm 1793 tại họ Ngoại Vối, tỉnh Nam Định (xứ Ngoại Bồi), Đaminh Trạch vào ở với cha xứ từ bé. Trong thời vua Gia Long, cậu có hoàn cảnh được học đầy đủ chương trình ở chủng viện và thụ phong linh mục năm 30 tuổi. Năm sau, cha xin vào dòng Đaminh và tuyên khấn ngày 03.6.1825.

Không sợ cũng chẳng hối tiếc

Những người làm chứng trong hồ sơ phong thánh ca tụng cha Trạch sống nghiêm ngặt và hết lòng tuân giữ kỷ luật dòng. Tuy mang trong mình chứng bệnh lao phổi nan y, cha vẫn giữ đủ luật ăn chay hãm mình và chu toàn mọi công tác. Cha coi xứ Quần Cống, rồi về Lục Thủy để dưỡng bệnh và kiêm nhiệm việc linh hướng cho các chủng sinh. Năm 1839, cha bị bắt ở Ngọc Cục, nhưng dân làng bỏ ra 200 quan để chuộc cha về. Từ đó, cha ở nhà ông lang Thiện và ông Trùm Bảo ở Trà Lũ.

Ngày 11.4.1840, khi lên thăm hai linh mục Vinh và Thản ở Ngưỡng Nhân, cha bị quân lính phát hiện. Do tình trạng bệnh hoạn, sức yếu chân chậm, cha không kịp chạy chốn trên đường về Tử Liêu, cha bị bắt và giải về phủ Xuân Trường. sau một thời gian bị giam và tra hỏi ở đây, cha Trạch được chuyển qua ngục thất tỉnh Nam Định.

Sự hiện diện của cha trong ngục là niềm vui và khích lệ cho nhiều Kitô hữu, cả những phạm nhân khác đang bị giam ở đó. mặc dù sức đã kiệt, cha Trạch vẫn cố gắng an ủi khuyên nhủ các giáo hữu và giải tội cho họ, đặc biệt cha đã giúp thày Tôma Toán, sau khi đạp lên Thánh Giá lần thứ hai thống hối trở về với Chúa và can đảm chịu tử đạo. Cha kêu mời anh em cùng cầu nguyện, nhất là đọc kinh Mân Côi. Khuân mặt cha lúc nào cũng vui vẻ, cha thường nói : “Tuy tôi thể lực yếu đuối, nhưng đã vì đạo mà bị bắt, tôi chẳng sợ gì, cũng chẳng hối tiếc chi”.

Ra tòa lần nào cha cũng bị vặn hỏi về linh mục Hemosilla Vọng dòng Đaminh, vị thừa sai Tây Ban Nha mà quan tưởng là người cuối cùng chưa bị bắt. Quan còn hứa trả tự do nếu cha chịu bước qua Thập Giá và đe dọa : “Hãy nhìn cây Thập Giá kia, một là bước qua, hai là chết”. Cha Đaminh Trạch không trả lời ngay, tự động quỳ xuống hôn kính Thánh Giá rồi quay về phía quan và nói: “Thưa quan, Thánh Giá là giường Chúa Kitô nằm chết thay cho nhân loại, nếu quan muốn sự sống đời đời, xin quan kính lạy Thánh Giá này. Tôi thà chết chứ không chịu bước qua Thánh Giá”.

Cứ để tôi đi trước

Nghe vậy quan Tổng đốc nổi giận tát vào mặt nhà thuyết giáo, rồi đấm đá túi bụi. Quan bắt lính cầm hai đầu gông khiêng cha qua Thánh Giá, nhưng cha co chân lên mặc cho lính đánh đập tàn nhẫn. Vừa mỏi mệt thất vọng, vừa phẫn lộ điên cuồng, các quan đồng thanh kết án xử cha. Ngày 18.9.1840, bản án được vua Minh Mạng châu phê ra tới Nam Định và được thi hành ngay tức khắc. Quan cho một cơ hội ân xá cuối cùng nếu bước qua Thánh Giá, nhưng cha từ chối.

Khi sắp rời ngục đi xử, cha tạm biệt các cha Ngân, Nghị, Thịnh, thuộc giáo phận Tây Đàng Ngoài cùng bị giam tại đó. như một người xác tín mình sắp được vào Thiên Quốc bĩnh cửu, cha nói : “Các cha ở lại để tôi đi trước”. Dân chúng hiếu kỳ theo ngài ra pháp trường đông như xem hội. Đến nơi xử, lính tháo gông cho cha. Sau đôi phút cầu nguyện, cha Trạch đưa đầu lãnh nhát gươm tử đạo tiến về Nước Hằng Sống. Thi thể ngài được án táng tại chỗ, năm sau các tín hữu cải táng về nhà chung ở Lục Thủy.

Ngày 27.5.1900, Đức Lêo XIII suy tôn linh mục dòng Thuyết giáo, cha Đaminh Trạch lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.

Nguồn: http://hddmvn.net/tusach/tusach/117tdvn/trach-op-lm.htm

———————————————————

BÀI ĐỌC THÊM:

Thánh Đa Minh Trạch sinh năm 1793 tại họ Ngoại Vối, xứ Ngoại Bồi, tỉnh Nam Định. Ngay từ khi còn nhỏ, cậu Đa Minh Trạch đã có may mắn được vào ở với cha xứ, làm cậu giúp lễ rất siêng năng. Cậu được tiếng là hiền lành, đạo đức. Cha xứ thấy cậu ngoan ngoãn và có lòng đạo đức lại ước ao được dâng mình cho Chúa để trở thành linh mục, thì cho cậu học chữ nghĩa đàng hoàng rồi gửi cậu về chủng viện học triết và thần học. Cậu rất sáng dạ nên con đường học vấn cậu đạt được một cách mau mắn và dễ dàng.

Sau khi hoàn tất chương trình học tập, năm 1823 bề trên gọi ngài lên chức linh mục ở tuổi 30. Lãnh chức linh mục rồi, ngài được bổ nhiệm về làm cha xứ coi sóc giáo xứ Quần Cống. Nhưng sau đó vì phát hiện chứng bệnh lao phổi, sức khỏe suy giảm mau lẹ, nên bề trên lại cho ngài về Lục Thủy để chữa trị chứng bệnh nan y, đồng thời để giúp đỡ các chủng sinh trong việc linh hướng và dạy các chủng sinh về môn tu đức.

Năm 1839, ngài đã bị bắt ở xứ Ngọc Cục, dân làng biết tin vội vàng quyên góp được số tiền lớn là 200 quan đem tới xin chuộc ngài về. Được trả tự do về, cha biết rằng mình đã bị lộ nên việc ở lại Lục Thủy là không ổn. Đầu năm 1840, cha âm thầm về ẩn lánh tại họ Trà Lũ, lúc đầu ở nhà ông lang Thiện, rồi sau chuyển sang nhà ông trùm Bảo. Chứng bệnh lao phổi mỗi ngày thêm trầm trọng vì sống ẩn núp nơi ẩm thấp, nhiều khi vì lạnh lẽo nên bệnh lại càng tăng thêm, nhưng lúc nào ngài cũng cố gắng bằng mọi cách tiếp xúc với giáo dân để ban các Bí tích, cũng như giảng dạy giáo lý và khuyến khích các tín hữu sốt sắng giữ đạo trong thời buổi khó khăn này. Có lần ngồi khuyên bảo một nhóm tín hữu, ngài đã tâm sự:

– “Tôi rất buồn và xấu hổ vì trong các xứ đạo của chúng ta đây chưa có vị tử đạo nào”

Một thầy giảng tiếp lời:

– “Theo tôi nghĩ, nếu bây giờ trong anh em chúng ta có ai bị bắt, tôi tin là họ sẽ hành hạ dã mãn hơn trước. Vì bây giờ lệnh của vua truyền xuống gay gắt lắm”.

Cha Đa Minh Trạch nói thêm:

– “Nếu bây giờ tôi bị bắt nữa, xin anh em bảo nhau đừng góp tiền chuộc tôi nữa nhé. Họ muốn làm gì tôi thì làm. Tôi sẵn lòng chiụ mọi khốn khó Chúa gửi đến.

Nói xong ngài xin mọi người ngồi sát lại gần nhau để đọc kinh cầu nguyện. Thường thường những buổi gặp gỡ và cầu nguyện chung với nhau như thế rất sốt sắng, ngài hướng dẫn và khuyên nhủ mọi người phải kiên trì giữ vững đức tin, và phải nâng đỡ nhau trong những khi gặp hoạn nạn. Sau buổi cầu nguyện kéo dài chừng một tiếng đồng hồ, rồi âm thầm giải tán, mỗi người đi một nơi về nhà mình.

Một hôm, ngài biết tin cha Vinh và cha Thản cũng đang lưu ngụ tại Ngưỡng Nhân, ngày 11 tháng 4 năm 1840, ngài vội vàng kín đáo tìm đến gặp các ngài. Làng Ngưỡng Nhân từ trước tới nay vẫn bình an, chưa bao giờ bị quan quân lính tráng tới. Chính vì thế mà nhiều vị thừa sai và các linh mục hay lui tới trú ẩn, và là chỗ dừng chân của các nhà truyền giáo. Nhưng đột nhiên khi cha Đa Minh Trạch vừa lén lút tới Ngưỡng Nhân được vài ngày thì bất thần, ông Cai Tổng Nhật đem quân đến vây bắt các đạo trưởng để lập công. Vừa được tin, hai cha Vinh và Thản may mắn  trốn thoát kịp, còn cha Đa Minh Trạch vì bệnh lao phối, sức khỏe yếu quá không chạy kịp nên bị phát hiện và bị bắt ngay trong làng Ngưỡng Nhân. Bắt được ngài, họ vui mừng reo hò, họ trói và bắt cha đeo gông, giải cha về đình làng rồi giải về phủ Xuân Trường nộp cho quan phủ.

Quan phủ nhìn thấy cha không nói gì, cứ để cha đứng phơi nắng ngoài trời nóng như thiêu như đốt. Đứng ngoài trời phơi nắng hơn một tiếng đồng hồ, quan phủ mới cho lệnh xiềng xích chân tay lại rồi tống giam vào ngục. Những người đang bị giam tù có nhiều người là Công giáo thì vui mừng gặp được ngài. Nhiều người xin ngài giải tội và ban phép lành cho họ. Đặc biệt trong số những người bị giam tù đó có thầy già Toán. Vì già và bị đánh đòn nhiều quá, thầy đã liều lĩnh bước qua Thánh Giá hai lần rồi. Nhưng sau đó thì lại hối hận và dốc quyết một lòng xưng đạo và chết vì đạo chứ không dám chối Chúa nữa. Biết được hoàn cảnh như thế, cha Đa Minh Trạch đã khích lệ thầy rất nhiều và từ đó thầy đã trở nên can đảm cho tới chết vì Chúa. Ngoài ra, cha thường khuyên bảo anh em luôn cầu nguyện, nhất là đọc kinh Mân Côi để xin Chúa và Đức Mẹ luôn nâng đỡ, ban thêm sức mạnh để vững vàng kiên trung với Chúa đến cùng. Mặc dầu vì bệnh lao phổi, sức rất yếu nhưng lúc nào ngài cũng vui vẻ, lạc quan. Có người bạn tù hỏi ngài:

– “Thưa Cha, cha bị bệnh và sức khỏe yếu quá, mà những hình khổ thì ghê gớm lắm, sức cha chịu được không?”.

Ngài tươi cười tâm sự:

– “Tôi đau yếu phần xác thật đấy. Nhưng tôi bị các hình khổ vì đạo, vì Chúa thì tôi không sợ. Có ơn Chúa giúp, tôi sẽ chịu được, bạn ạ”.

Sau ít ngày, quan phủ lại cho giải ngài về tỉnh nộp cho quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh tỉnh Nam Định. Trong lúc này, Trịnh Quang Khanh đang hăng say đi bắt đạo nên thấy cha ốm yếu, quan cũng chẳng thương. Quan cho lệnh tra tấn, ép bỏ đạo và tống giam vào ngục. Vì bị đòn đau đớn, thân xác lại bệnh tật nhức nhối. Thế mà còn phải chứng kiến thấy những người Kitô hữu chối đạo, bước qua Thánh Giá, cha lại càng đau đớn nhức nhối thêm bội phần. Cha đấm ngực ăn năn thay cho những người bỏ Chúa. Cha quì gối đọc kinh cầu nguyện cho họ. Cha nói với thầy già Toán:

– “Nhìn những người yếu đuối về đức tin, thấy hình khổ mà khiếp sợ rồi bước qua Thánh Giá, tôi đau đớn lắm. Xin thầy cầu Chúa tha tội cho những người này và xin cho họ biết ăn năn trở về với Chúa”.

Thầy già Toán chia sẻ sự đau đớn ấy với cha:

– “Thưa cha, con biết họ yếu đuối mà chối Chúa. Con cũng đã từng yếu đuối như thế. Nhưng với ơn Chúa, con mong họ sẽ ăn năn thống hối xin Chúa tha, như con đã được Chúa tha và cha đã giải tội cho con”.

Nói xong, thầy xin lần hạt chung với cha để cầu nguyện cho những người vì yếu đuối mà chối bỏ Chúa.

Các quan lại cho lệnh gọi cha ra trước toà. Các quan đông đủ, kể cả quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Các quan dùng bạo lực, ép buộc cha phải bước lên Thánh Giá. Nhưng cũng như bao lần trước cha vẫn cương quyết từ chối. Các quan lại thất bại. Thấy cha ốm yếu quá mà vẫn ngoan cố, quan Trịnh Quang Khanh ra mặt lấy uy, tỏ ra rất hung dữ, quan lớn tiếng nói với cha:

– “Ta đã nói nhiều lời rồi. Bây giờ ngươi hãy nhìn cây Thánh Giá ta đã để trước mặt ngươi. Ngươi hãy bước lên đi, nếu còn ương ngạnh không chịu thì ngươi sẽ phải chết”.

Nghe những lời đe dọa đó, ngài trang trọng, từ từ tiến lại gần Thánh Giá, các quan hồi hộp chờ đợi mong ngài sẽ bước lên Thánh Giá. Nhưng bất ngờ, ngài quì xuống ôm Thánh Giá cung kính hôn rồi quay lại nói với các quan:

 “Thưa các quan lớn, Thánh Giá này là biểu tưởng cây Thánh Giá Chúa tôi đã chịu chết xưa, là biểu tượng đức tin và cũng là biểu tượng của đạo Gia Tô. Nếu các quan muốn có sự sống đời đời thì thì các quan phải thờ kính cây Thánh Giá này. Vì thế, tôi không bao giờ có thể bước lên Thánh Giá Chúa tôi, dầu tôi có phải chết thì tôi sẵn lòng chịu chết”

Quan Trịnh Quang Khanh tức giận quá, liền hùng hổ đứng lên tiến lại gần cha tát vào mặt cha và đấm túi bụi vào người cha. Quan lại truyền đội lính khiêng hai đầu gông, đem sát hai chân của cha trên cây Thánh Giá. Cha co hai chân lên cao nhưng bọn lính đánh đau quá, lại vì bị hành hạ quá mệt nhọc cha không còn đủ sức để chống trả lại. Cha nói:

– “Các quan làm thì các quan mang tội. Tôi không bỏ đạo, không bỏ Chúa. Tôi luôn tin kính Chúa của tôi”.

Lần này các quan hoàn toàn thất vọng nên bàn định làm án gửi về triều đình xin trảm quyết. Sau đó, lại dẫn cha về giam trong ngục, chờ đợi lệnh vua. Biết các quan đã làm án trảm quyết thì cha vui mừng trở vế nhà giam, vội vàng viết thư cho cha Tuyên và cha Năng. Để không bị lộ, cha gọi hai cha bạn là bác, xưng mình là cháu. Lá thư cuối cùng ngài viết như sau:

Kính thăm hai bác Tuyên và Năng. Cháu luôn nghĩ tới hai bác, nên viết những dòng chữ này để xin hai bác cầu nguyện cho cháu để xứng đáng nhận diễm phúc mà Chúa đã dành cho cháu. Cháu cảm tạ ơn Chúa đã giúp cháu đi qua được bảy chặng đường (7 lần tra tấn đau đớn?) và đây có lẽ là chặng cuối cùng (trảm quyết?)  Xin hai bác thương cháu khi hai bác dâng thánh lễ. Hai bác thiết tha xin Chúa cho cháu luôn can đảm và trung kiên đến giờ phút cuối cùng. Hai bác đã biết, cháu đau ốm suốt từ ngày đến đây cho tới bây giờ. Cháu thường bị hành hạ, bị xử tàn tệ hơn các bổn đạo rất nhiều. Các quan đã dùng hết mọi cách tàn ác có thể tưởng tượng được để áp đảo tinh thần rồi họ dùng bạo lức ép buộc cháu phải quá khóa và khai chỗ ở của Đức Cha Hermosilla. Tất cả đều vô ích, nhờ ơn Chúa và ĐứcMẹ giúp cháu vẫn cương quyết không bỏ đạo, không khai báo bất cứ một người nào có đạo. Các quan còn trao cho viên cai tù phải theo dõi và dò xét xem cháu liên lạc với ai, hoặc sơ hở điều gì về Đức Cha Hermosilla v.v. Họ tàn ác lắm hai bác ạ. Cuối cùng họ không làm gì được cháu nữa nên họ đã làm án xử trảm cháu rồi. Cháu vui mừng báo tin để hai bác cầu nguyện cho cháu và tạ ơn Chúa thay cho cháu nữa”.

Sau đó vài ngày, tức là ngày 18 tháng 9 năm 1840 án lệnh từ triều đình gửi về, quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh cho gọi cha ra hầu tòa lần chót. Quan tổng đốc nói:

– “Ta nói cho ngươi biết, dù đã có lệnh vua truyền chém đầu ngươi, nhưng ngay bây giờ người bước qua Thánh Giá thì ta sẽ tha cho ngươi ngay

Ngài bình tĩnh và vui vẻ đáp:

– “Thưa quan lớn, vua đã truyền tôi phải chém, thì xin quan lớn cứ chém theo lệnh vua. Tôi xin vui lòng chịu chết vì đạo Chúa, dứt khoát tôi không bao giờ quá khoá”.

Khi thấy quan quân chuẩn bị đem ngài ra pháp trường, ngài từ giã cha Nghi và cha Ngân cùng bị giam chung với ngài. Hai cha này sau cũng được phúc tử đạo. Quân lính vào giải ngài đi. Ngài quay lại nói:

– “Các cha ở lại bình an, tôi xin đi trước. Xin cầu nguyện cho tôi”.

Nói xong, bọn lính đầy ngài ra đi tiến ra pháp trường. Có khá đông người đi theo trong đó có cả lương và giáo, phần nhiều là những người quen mến cha. Nhiều người muốn tới gần cha, nhưng bọn lính đông lắm nên họ làm hàng rào ngăn cách, không ai được tới gần. Cha nhìn thấy trong đám đông có nhiều người thân thiết, nhưng từ xa cha chỉ giơ vẫy tay chào.

Tới pháp trường Bảy Mẫu Nam Định, bọn lý hình tháo gông và xiềng xích để ngài quì phó dâng linh hồn trong tay Chúa. Khi được lệnh của quan lớn, chiêng trống vang lên, một lưỡi gươm sắc bén từ trên lưng ngựa vụt bay qua, đầu vị tử đạo rơi xuống đất.

Hôm đó là ngày 18 tháng 9 năm 1840, kết thúc cuộc đời vị linh mục thánh thiện ở tuổi 68.

Các tín hữu xô vào tranh nhau thấm máu ngài và thu nhặt tất cả những gì thuộc về ngài. Họ đã làm sẵn một chiếc quan tài, xin xác và đầu của ngài đặt vào quan tài và theo lệnh phải an táng tại chỗ. Mấy tháng sau vua Minh Mạng băng hà, bổn đạo xin phép cải táng rước về an táng tại nhà chung Lục Thủy.

Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII đã suy tôn ngài lên bậc Chân phước ngày 21 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng ngài lên hàng Hiển thánh tử đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Ðức Việt Châu, SSS

Nguồn: https://www.tonggiaophanhanoi.org/phung-vu/hanh-cac-thanh/12410-ngay-18-9-thanh-da-minh-trach-linh-muc-1772-1840.html

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Ngày 16-09: LỄ THÁNH CORNÊLIÔ GIÁO HOÀNG VÀ THÁNH CYPRIANÔ GIÁM MỤC TỬ ĐẠO

1. Đôi dòng lịch sử.

+ Thánh Cornêliô sinh tại Rôma, là người có một lối sống trong sạch thuần khiết và khiêm nhường sâu xa không gì có thể trách cứ được. Sau khi giữ các phận vụ trong Giáo hội và được mọi người thán phục, ngài lên ngôi Thánh Phêrô, kế vị Đức Giáo Hoàng Fabianô, Đấng đã chết vì đạo 15 tháng trước trong cuộc bách hại của Đêciô. Nhưng lên ngôi ít lâu, ngài đã phải đương đầu với cuộc ly khai đầy gương mù của một giáo hoàng giả. Nôvatianô là một linh mục đầy tham vọng, được một linh mục Phi châu là Nôvatô hậu thuẫn.  Họ nổi tiếng về triết học và tài lợi khẩu, đến nỗi có người than phiền vì đã chọn lầm Đức Côrnêliô làm Giáo Hoàng mà không chọn Nôvatianô. Hai người nổi loạn đã nỗ lực tuyên truyền và lôi kéo được một số tín hữu và cả một số giám mục đi theo. Ba giám mục nước Ý đã đặt tay tấn phong cho Nôvatianô làm giáo hoàng. Nôvatianô liền viết thư cho nhiều Giám mục chống lại Đức Giáo Hoàng Cornêliô, trách cứ ngài quá dễ dàng tiếp nhận lại những người đã dâng hương tế thần.

Thánh Côrnêliô đã dùng cả con đường hiền dịu lẫn cứng rắn mà vẫn không lôi kéo được hai con người bội phản trở lại đường ngay. Nhưng nhờ các nhân đức của một vị tông đồ chân chính, thánh Cornêliô đã chinh phục được nhiều Giám Mục hợp tác với Ngài. Chính thánh Cyprianô, sau khi biết rõ việc tuyển chọn hợp pháp của thánh Côrnêliô đã cộng tác với ngài hết mình để mang lại sự hợp nhất cho Giáo hội. Những sắc lệnh kết án Nôvatô và Nôvatianô được một công đồng ở Rôma chuẩn nhận.

Khi Gallô mở lại cuộc bắt đạo, Đức Côrnêliô bị tống giam. Ngài bị đày tới Contumcella, bây giờ là Civita Vecchina. Trong một lá thư chào mừng, thánh Côrnêliô viết:

– Chúng ta cầu nguyện cho nhau trong những ngày bị bách hại này, nâng đỡ nhau bằng tình bác ái. Nếu ai trong chúng ta được Thiên Chúa ban đặc ân cho qua đời trước, chớ gì tình thân hữu vẫn tiếp tục trước mặt Chúa và lời cầu nguyện của chúng ta tiếp tục thúc đẩy Chúa dủ tình thương xót anh chị em của chúng ta.

Quả thật, thánh Cornêliô đã chẳng sống lâu. Ngài đã qua đời trong lúc bị đi đày tại Contumsenla, ngày 14 tháng 9 năm 253 và được an táng tại đó. Sau này thi hài của ngài được dời về nghĩa trang thánh Callistô.

Tình bằng hữu của hai thánh Cornêliô và Cyprianô vẫn còn sống mãi cho tới ngày nay, và Giáo hội kính nhớ các ngài vào cùng một ngày.

+ Thánh Cyprianô là bạn thân của Đức Cornêliô nên được mừng lễ cùng ngày với nhau. Ngài sinh tại Carthage năm 210, trong một gia đình ngoại đạo.

Thánh nhân là một nhà trí thức lỗi lạc, làm giáo sự dạy khoa hùng biện và luật. Năm lên 45 tuổi, ngài đã được Linh mục Cêciliô hướng dẫn vào đạo. Từ đó, thánh nhân bán hết gia tài phân phát cho người nghèo, hiến dâng đời mình cho Chúa. Ngài được thụ phong Linh mục năm 249 và sau đó được bầu làm Giám mục Carthage.  Là một mục tử nhiệt thành nhân đức, ngài dốc hết toàn lực chỉnh đốn lại đời sống của giáo sĩ cũng như giáo dân đã từ lâu sa sút vì những cuộc bách hại, để chuẩn bị họ đương đầu với những cơn bắt bớ về sau. Đúng như thánh nhân dự đoán, năm 257, hoàng đế Valêrianô lại ra chiếu chỉ bắt đạo, và thánh nhân là một trong những người bị bắt đầu tiên. Ngày 14 tháng 9 năm 258, ngài bị điệu ra trước tòa án để chịu xử trảm.

“Sáng ngày 14 tháng 9, dân chúng lũ lượt kéo đến công trường Xéttô theo lệnh quan kinh lược Galêriô Macximô. Cũng chính quan kinh lược hạ lệnh hôm ấy phải điệu Cyprianô đến cho ngài ngồi xử ở tiền đường Xôxiôlô. Khi Giám mục Cyprianô đến, quan kinh luợc hỏi:

– Chính ông là Tasiô Cyprianô phải không?

Đức Giám mục Cyprianô trả lời:

 – Vâng, chính tôi.

Quan kinh lược Galêriô Macximô nói:

 – Ông là cha của bọn đầu óc phạm thánh phải không?

Đức Giám mục Cyprianô trả lời:

 – Vâng.

Quan bảo:

 – Các thánh thượng lệnh cho ông phải tế thần.

Đức Giám mục trả lời:

 – Tôi không tế thần.

Galêriô Macximô bảo:

 – Suy nghĩ kỹ đi.

Đức Giám mục đáp:

– Ngài cứ theo luật mà làm, đối với một vấn đề chính đáng như thế tôi chẳng cần suy nghĩ gì cả. Galêriô Macximô cùng với Hội đồng nghị quyết, và cuối cùng phải tuyên án rằng:

– Phạt xử trảm Cyprianô.

Đức Giám mục Cyprianô thưa:

 – Tạ ơn Chúa.

Thế là Thánh Giám mục Cyprianô được phúc tử đạo ngày 14 tháng 9 năm 258, dưới triều hoàng đế Valêrianô.

2. Bài học:

a. Gương can đảm.

Việc Đức Cornêliô cùng với anh em linh mục và giáo dân đã can đảm khi bị vua quan tra tấn hành hạ, đã làm nức lòng mọi người. Tin này làm cho mọi người hân hoan phấn khởi, nhất là thánh Cyprianô. Thánh Cyprianô đã hết lòng ca ngợi tấm gương cao cả này: “Làm sao diễn tả cho hết niềm phấn khởi và nỗi vui mừng ở đây, khi chúng tôi biết được những thành quả can đảm của những người anh em chúng tôi”. Ngài viết tiếp rằng “ở đó, chính ngài (Đức Cornêliô) đã dẫn đầu anh em trong việc tuyên xưng đức tin; và việc tuyên xưng của những người anh em làm cho việc tuyên xưng của người đứng đầu nổi hẳn lên. Vì khi dẫn đầu đi tới vinh quang, Ngài đã lôi kéo được nhiều người cùng đi tới vinh quang. Ngài đã thuyết phục được toàn dân tuyên xưng đức tin, khi ngài sẵn sàng tuyên xưng trước hết thay cho tất cả mọi người, đến nỗi chúng ta không biết phải ca tụng điều gì trước: đức tin mau mắn vững bền của ngài hay là lòng yêu thương của mọi người không muốn tách rời khỏi người cha chung của họ? Lòng can đảm của vị Giám mục dám đi tiên phong tong việc tuyên xưng đức tin đã được mọi người công nhận…”

b. Việc nổi bật thứ hai là lòng bao dung tha thứ.

Lúc đó trong Giáo hội đã xảy ra cuộc tranh cải sôi nổi về những người đã chối đạo. Họ là những người vì quá sợ mà đã phạm tội bọ đạo và tế thần. Vấn đề đặt ra là có nên tha cho họ khi họ ăn năn sám hối trở về với Chúa hay không? Có được nhận họ trở lại với Hội thánh không?

Về vấn đề này có hai khuynh hướng đối chọi nhau.

Khuynh hướng thứ nhất đứng đầu là linh mục Nôvatianô chủ trương dứt khoát phải loại bỏ những hạng người này ra khỏi Giáo Hội, tuyên bố vạ tuyệt thông đối với họ.

Khuynh hướng thứ hai: Sau khi họp bàn với các Đức Giám mục, Đức Thánh Cha Cornêliô tuyên bố tha thứ và đón nhận họ trở lại với Hội thánh. Nhóm giáo sĩ ly khai chống đối. Vì thế mà có cuộc tranh luận dằng dai trong Giáo hội, làm cớ cho vua quan phần đời lợi dụng cơ hội chống phá đạo.

Lạy hai thánh Corlêliô và Cyprianô, xin cầu cho chúng con. Amen. (Viết theo tài liệu từ Internet)

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

Nguồn: WGPSG

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Ngày 17 tháng 9 – Thánh Emmanuel NGUYỄN VĂN TRIỆU, Linh mục Tử đạo – (1756 – 1798)

Emmanuel Nguyen Van Trieu

Cho  tròn đạo hiếu…

Là một linh mục giáo phận Đông Đàng Ngoài, vốn biết bao bận rộn vì công tác mục vụ, nhưng cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu vẫn không quên người mẹ già ở quê nhà. Năm 1798 giữa cơn bách hại gay gắt của vua Cảnh Thịnh, nhất là tại kinh đô, cha đã xin phép Bề trên về Phú Xuân thăm mẹ, và ở lại gần ba tháng để gầy dựng cho bà một mái nhà nhỏ xinh. Chính vì muốn trọn đạo hiếu với mẫu thân mà linh mục đã bị bắt.

kim-long-15

Nhà thờ Giáo xứ Kim Long, TGP. Huế

Không phải Chúa trần gian mà là Thiên Chúa.

Emmanuel Nguyễn Văn Triệu sinh năm 1756 tại làng Kim Long, Phú Xuân (nay là Huế). Thân phụ cậu là ông Cai Lương, Nguyễn Văn Lương, một võ quan Công Giáo phò chúa Nguyễn đã bị tử trận trong một cuộc chiến với Tây Sơn. Sớm mồ côi cha, cậu Triệu sống với mẹ ở Thợ Đúc, gia nhập quân đội năm 1771 khi mới 15 tuổi. năm 1774, anh cùng các bạn gia nhập quân đội của vua Lê chúa Trịnh, chiếm được Phú Xuân. Đến khi Tây Sơn từ phía Nam đánh lên, trở thành chủ nhân ông mới của Phú Xuân, vệ binh Nguyễn Văn Triệu đành theo Trịnh Khải rút về Thăng Long (1786).

Tháng 6 năm đó, quân Tây Sơn thừa thắng xông lên, tiến ra Bắc lấy cớ phò Lê diệt trịnh. Trịnh Khải phải mổ bụng tự tử. Rồi vua Lê Cảnh Hưng băng hà, Lê Chiêu Thống lên ngôi, miền Bắc lại xảy ra nội chiến giữa hai phe Trịnh Lệ và Trịnh Bồng. Chính bối cảnh nhiễu nhương thay ngôi đổi chúa đó đã làm cho anh vệ binh Triệu phải suy nghĩ và đi đến quyết định dứt khoát cho cuộc đời mình.

Ba mươi tuổi đời, mười lăm năm binh nghiệp với biết bao thăng trầm, Emmanuel Triệu bước vào một khúc quanh mới, giã từ vũ khí để phụng vụ Vua trên trời và qua đó phục vụ tha nhân cách đích thực hơn. Mới đầu, anh được một linh mục dòng Tên ở Hà Nội hướng dẫn, nhưng sau anh được Đức cha Obêlar Khâm giáo phận Đông đàng Ngoài nhận vào học tại trường thần học Trung Linh. Và năm 1793, Đức cha Anlonsô Phê truyền chức linh mục. Khi đó cha Triệu đã 37 tuổi.

Nhờ nền giáo dục chu đáo từ nhỏ, cùng với những kinh nghiệm lâu năm trong đời sống quân ngũ, và nhất là ơn Chúa giúp, cha Emmanuel Triệu trở thành một mục tử hăng say nhiệt tình và làm việc có phương pháp. Sáu năm phục vụ trong giáo phận Đông, cha đã thu hoạch được nhiều kết quả và được các bề trên quý mến.

Nha tho Kim Long, Hue

Nhà thờ Giáo xứ Kim Long, TGP. Huế

Đường lao vào tù

Dưới thời vua Cảnh Thịnh (1792–1802) tình hình chính trị trong nước ngày càng phức tạp. Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) tổ chức quân đội ngày càng mạnh, hùng cứ ở Gia Định, hằng năm cứ đến mùa gió nồm lại đem quân ra đánh Huế. Hỗ trợ cho Nguyễn Ánh có một số quân Pháp do Đức cha Bá Đa Lộc chiêu mộ. Do đó, vua Cảnh Thịnh sinh ra ác cảm với đạo, nhất là cuối năm 1797, khi bắt được lá thư của Nguyễn Ánh gửi Đức cha Labartatte Bình (Giám mục Đàng Trong) ở Phú Xuân, nhà vua càng nghi ngờ đạo Công Giáo tiếp tay cho giặc.

Một quan văn có đạo, quan Thượng Hồ Cung Điều nhiều lần thanh minh trước mặt nhà vua rằng: “Đạo dạy trung quân vương, hiếu phụ mẫu, chớ có phải đạo dạy làm giặc đâu”. Vua nghe nói thì chần chừ. Nhưng viên quan nội hầu tên Lợi, cứ gièm pha mãi, nên cuối cùng, tháng 8.1798, một chiếu chỉ cấm đạo được ban hành.

Trước đó ba tháng, cha Emmanuel Triệu vì thương nhớ mẹ già, nên trở về khu Chợ Đúc, Phú Xuân (Huế). Thật bùi ngùi cảm động sau 12 năm xa cách, hai mẹ con lại gặp nhau. Giờ đây mái tóc của người mẹ đã bạc phơ, còn con nay đã 42 tuổi và là linh mục của Chúa. Cha Triệu thấy xót xa trước cảnh mẫu thân mình phải ăn nhờ ở đậu nhà người khác. Cha quyết định ở lại, cùng với bà con lối xóm, dựng cho mẹ một mái nhà nhỏ để có nơi nương thân. Thời gian này cha Triệu nhân thể cũng đi thăm viếng và dâng lễ tại các họ đạo gần đó. Cha được các tín hữu ở dây thương mến nhiều.

Ngày 07.08.1798, theo chiếu chỉ nhà vua mới ban hành, bốn cơ binh (mỗi cơ 50 quân) bất thần bao vây bốn giáo xứ vùng kinh đô. Tại xứ Thợ Đúc, quan quân có ý tìm cha chính xứ, cha Nhơn, nhưng nhờ quan Thượng Điều đã báo tin, nên ngài đã trốn thoát kịp. Còn cha Triệu thì mới về, nên quan không biết, quan quân bắt một số giáo hữu trong đó có cha Triệu và tra hỏi về các linh mục. Cha Triệu tự nguyện cung khai, nhận mình là người mà họ lùng bắt. Quân lính liền trói tay cha lại dẫn đi. Khi thấy mẹ già khóc lóc thảm thiết, cha Triệu dừng lại nói ít câu từ giã: “Thiên Chúa đã cho con vinh dự làm chứng cho Ngài. Xin mẹ đừng khóc nữa. Mẹ hãy vui lòng vâng theo ý Chúa”.

Vượt qua gian khổ

Tiếp theo đó là 40 ngày đêm thử thách trong cảnh ngục tù. Cổ mang gông, tay chân bị xiềng xích, cha còn bị đưa ra tòa nhiều lần, chịu ba trận đòn dữ dội. Khi các quan thẩm tra lý lịch, cha nói rõ mình sinh quán Phú Xuân, vì hoàn cảnh khó khăn mới phải ra Đàng Ngoài để làm ăn, rồi được học giáo lý trong đạo và làm linh mục. Quan hỏi: “Thầy có vợ con ở đây hay ở Đàng Ngoài? Cha đáp: “Tôi không lấy vợ, vì là linh mục nên tôi sống độc thân”.

Ngày 17-8 các quan định kết án voi giày nhưng một viên quan không đồng ý nên vụ án được trì hoãn.

Thời gian ở trong ngục, cha Triệu vẫn giữ được niềm vui vẻ và tin tưởng vào Chúa. Điều an ủi cha nhất, là được một linh mục cải trang vào thăm và giải tội. Thân mẫu cha nhiều lần cũng đến thăm. Cha an ủi bà, xin bà cầu nguyện nhiều cho mình được trung kiên. Ngoài ra, cha tranh thủ mọi giờ rảnh rỗi để chuẩn bị tâm hồn lãnh phúc tử đạo.

EmmanuelNguyenVanTrieu-628x975

Giờ phút vinh quang

Ngày xử án được ấn định là 17.9.1798. sáng sớm hôm đó, các quan hỏi cha lần cuối: “Thầy có muốn bỏ nghề đạo trưởng trở về quê quán sinh sống không? Nếu thầy đồng ý, ta sẽ xin vua tha cho”. Cha Triệu khẳng khái trả lời : “Thưa không, tôi là đạo trưởng, tôi thà chết chứ không bỏ việc giảng đạo”. Thế là đến gần 10 giờ sáng cha Triệu bị điệu ra pháp trường cùng với sáu tên trộm cướp cũng bị tử hình hôm đó. Cha bước đi bình tĩnh, trang nghiêm như một chiến sĩ thận trọng trước giờ lâm chiến. Các tín hữu nghe tin lũ lượt đi phía sau. Đàng trước cha, một người lính cầm thẻ bài đọc ghi bản án:

“Tên Triệu, con nhà Nguyễn Văn Lương, chuyên giảng đạo Hoa Lang, quyến rũ dân chúng theo đạo đáng ghê tởm ấy. Vậy y phải trảm quyết”.

Tại Bãi Dâu, nơi thi hành án, cha Triệu quỳ xuống cầu nguyện. Theo thói lệ, quan phát cho mỗi tử tội một quan tiền để ăn uống trước khi chết. Cha từ chối, viên quan liền nói : “Của vua ban không được coi thường”. Cha trả lời : “Vậy xin ai đó cầm tiền giúp tôi, gởi cho người nghèo”. Một người lính thấy thế liền tát vào mặt Ngài một cái. Viên quan nổi giận mắng anh ta: “Chưa đến giờ xử mà mi dám ngạo ngược như thế sao ?” Rồi ông quay qua mời vị chứng nhân đức tin ngồi và nói : “Khi nào đến giờ, tôi sẽ báo cho thầy”. Cha Triệu liền ngồi và tiếp tục cầu nguyện.

Đúng giờ ngọ (12 giờ trưa), viên quan nói với vị linh mục : “Giờ đã đến rồi”. Cha Triệu quỳ lên giơ cổ cho lý hình chém. Thi hài vị tử đạo được các tín hữu an táng tại họ Dương Sơn, sau được cải vào nhà thờ Dương Sơn.

Đức Lêo XIII suy tôn Chân Phước cho cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.

Nguồn: http://hddmvn.net/tusach/tusach/117tdvn/trieu-lm.htm

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường